Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

1979 - Cuộc chiến không thể lãng quên

(PetroTimes) - Cách đây 35 năm, vào ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã đưa hàng chục vạn quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước. Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, tiến hành cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ biên giới phía Bắc.
Cuộc chiến tranh diễn ra trong vòng 1 tháng nhưng đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho cả hai nước, đặc biệt là hậu quả lâu dài đối với quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Để làm rõ bản chất, sự thật lịch sử, tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc; đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền sai trái, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch, chúng tôi chuyển đến bạn đọc những nét chính về cuộc chiến tranh này. Qua đó để tôn vinh công lao, sự hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc; cổ vũ tinh thần yêu nước, truyền thống hào hùng của dân tộc, ý chí tự lực tự cường, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, giữ gìn và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị láng giềng Việt – Trung với phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt; không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, lợi ích lâu dài giữa hai dân tộc.
Thông qua sách báo, tài liệu của Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác xuất bản từ năm 1979 đến 2009, bạn đọc sẽ thấy được diễn biến và hậu quả của cuộc chiến tranh 1979:
5 giờ sáng ngày 17/2/1979, lực lượng Trung Quốc khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái.
Cánh phía tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.
Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.
Tiến đánh nhanh lúc khởi đầu nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng. Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới khá mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), Thông Nông (Cao Bằng) ở đông bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh thẳng vào Lào Cai.
Sang ngày 18 và 19/2, chiến sự lan rộng hơn. Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương (Hoàng Liên Sơn), Trùng Khánh (Cao Bằng), và Đồng Đăng (Lạng Sơn). Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.
Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận đánh ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn.
Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22/2. Ngày cuối cùng tại Pháo đài Đồng Đăng, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa học vào các lỗ thông hơi, làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.
Đến 21/2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.
Ngày 26/2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này. Sau khi thị sát chiến trường, Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đề xuất điều động một quân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch.
Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã lập cầu hàng không, chở Quân đoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn.
Ngày 25/2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 (Binh đoàn Chi Lăng) thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28/2/1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Quân đội Việt Nam còn phản kích, đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa cảnh cáo Trung Quốc.
Lạng Sơn - những trận chiến quyết tử
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27/2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện.
Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3 và 337 của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2/3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả lại 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129 cùng nhiều xe tăng, pháo của Trung Quốc, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong, huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc.
Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng.
Chiếm được điểm cao 800 và ga Tam Lung nhưng trong suốt các ngày từ 28/2 đến 2/3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy chúng đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn mà có trận, quân phòng thủ Việt Nam chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3, sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4/3, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.
Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.
Trung Quốc buộc phải rút quân
Ngày 5/3/1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Lúc đó, tại mặt trận Lạng Sơn, phía Việt Nam đã bày binh bố trận rất bài bản, chuẩn bị phản công trên quy mô lớn, đánh hiệp đồng quân binh chủng. Nếu không rút quân đúng thời điểm này thì quân Trung Quốc sẽ thiệt hại rất lớn, nhận hậu quả rất nặng nề, bị tiêu diệt gọn. Bởi lúc đó, Sư đoàn 337 của Việt Nam lên tham chiến từ ngày 2/3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Nhưng 337 đến hơi muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn. Tuy nhiên, Sư đoàn 337 đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích, đánh duổi quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Ma.
Ngày 7/3, Việt Nam tuyên bố thể hiện "thiện chí hòa bình", sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.
Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân nhưng chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi dọc biên giới 6 tỉnh phía Bắc.
Ngày 18/3/1979, Trung Quốc rút hết quân khỏi biên giới Việt Nam.
Theo Petrotimes

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2009

Quan Tri châu Lạc Sơn và Hoa hậu xứ Mường

Thứ sáu, 6/3/2009, 07:00 GMT+7

Một trong những nỗi buồn của Chánh quan Lang Quách Vị là Quách Hàm - con trai cả của ông làm quan Tri châu Lạc Sơn lại lấy em gái nuôi làm vợ thứ Tư…


Như phần trên đã đề cập, Chánh quan Lang kiêm Tuần phủ tỉnh Hòa Bình – Quách Vị có 4 người vợ. Vào năm 1903, bà vợ cả Đinh Thị Yên, sinh 1882, xuất thân dòng dõi nhà Lang ở mường Bi, hơn ông một tuổi, sinh ra người con trai cả, đặt tên là Quách Hàm. Theo tập tục truyền đời thì Quách Hàm sẽ thay cha làm lang Cả sau này. Đấy là đối với quy định của Nhà Lang, còn việc ra làm quan hay không, còn tùy thuộc vào sự học và phấn đấu của bản thân Quách Hàm.


Tri châu Quách Hàm tại công đường



Với tư chất thông minh, thể chất dồi dào, Quách Hàm mỗi lớn, mỗi trưởng thành và mỗi phong độ. Nhất là ông lại được gửi đi học trường Tây ở Hà Nội. Và, mới ngoài 20 tuổi, Quách Hàm đã làm việc ở Tri châu Lạc Sơn. Mỗi lần Quách Hàm lên tỉnh công cán thường nghỉ lại chỗ cha mình là dinh quan Án sát và sau là dinh Tuần phủ. Việc cha mình có một cô con gái nuôi, Quách Hàm biết từ lâu.

Chuyện là, trong dinh Tuần phủ có một gia đình phu bếp, chồng là người Hoa tên là Hà Quốc Trung, vợ là người Việt. Do nghiện thuốc phiện nên người đàn ông này phải bán dần con mình đi để lấy tiền mua thuốc phiện hút. Trong số những người con của họ, ông Quách Vị lúc còn là quan Án sát rất quý một cô tên là Hà Thị Tẻo, sinh năm 1917. Ông Quách Vị bỏ ra một số tiền mua cô bé chưa đầy mười tuổi về làm con và đổi họ thành Quách Thị Tẻo.

Quách Thị Tẻo như thể sinh ra để trở thành hoa hậu sứ Mường. Khuôn mặt đẹp, nước da trắng, tư chất thông minh hơn người của cô con gái mang dòng máu lai Hoa – Việt. Đã thế Tẻo lại được bố nuôi là quan Án sát, rồi quan Tuần phủ chăm bẵm, được học hành và giao tiếp với con cái các quan Tây nên chẳng mấy chốc, cô đã trở thành người con gái xinh đẹp và thời thượng. Bằng với vẻ đẹp trời cho ấy, Quách Thị Tẻo được rất nhiều công tử con quan, con lang và công chức phong lưu để ý, nhưng cô chưa để lọt mắt xanh một ai.

Một dạo, ông Quách Vị thấy con trai trưởng Quách Hàm đang làm việc tại Tri châu Lạc Sơn năng ra tỉnh ngay cả khi không phải công cán. Thì ra Quách Hàm si mê người em gái nuôi từ lúc nào không biết nữa. Vốn tư chất thông minh lại hào hoa, phong nhã, lang cả Quách Hàm đã từng bước chinh phục cô em gái nuôi nổi tiếng xinh đẹp. Biết được cơ sự này, người cha phản ứng gay gắt, cấm không cho họ quan hệ với nhau.


Quách Hàm lấy hoa hậu xứ Mường làm vợ thứ Tư


Thế nhưng, dù là Quan Tuần phủ, Chánh quan Lang, cha đẻ của con trai, cha nuôi của con gái, Quách Vị cũng không thể ngăn cản được tình yêu của họ. Năm 1932, khi Quách Thị Tẻo vào tuổi 16, cô đẹp một cách ngơ ngác và đầy quyến rũ. Có người nói: Nàng Tẻo mà ra tắm suối thì bờ đá cũng phải nở đầy hoa! Cũng năm đó, người cha nuôi Quách Vị đã đưa Tẻo cùng đi vào Triều đình Huế yết kiến vua Bảo Đại.

Thời phong kiến, được dâng lên vua một người con gái đẹp là được nhận một ân sủng, cho dù người con gái ấy là vợ hay là con đẻ của mình. Sau này người ta đồn rằng, chính vì sự kiện ấy mà Chánh quan Lang tỉnh Mường Hòa Bình Quách Vị được vua Bảo Đại ban thưởng áo thụng và mũ cánh chuồn. Vua Bảo Đại còn nói vui, đại ý vua ban cho mũ cánh chuồn là để thay cho đôi tai thật mà ông ấy không có.

Những ngày Tẻo kinh lý vào Triều đình Huế cùng bốnuôi, ở nhà Quách Hàm lòng như lửa đốt. Bổn phận của một quan châu nhiều khi xao nhãng. Quách Hàm mong ngày, mong đêm nàng Tẻo sớm trở về. Thế rồi vào năm 1933, vừa 17 tuổi, Quách Thị Tẻo đăng quang Hoa hậu sứ Mường. Các báo Đông Pháp đồng loạt đăng tin và ảnh về sự kiện này. Và, cũng chính thế, Quách Hàm càng thúc tiến nhanh việc lấy Hoa hậu sứ Mường làm vợ. Phải công nhận sức chinh phục của Quách Hàm là ghê gớm. Dù ông đã có tới 3 người vợ, lại hơn kém nhau 14 tuổi, nhưng Hoa hậu sứ Mường Quách Thị Tẻo đã vượt qua mọi rào cản để đến với quan châu Quách Hàm.

Lúc đầu họ đi chơi với nhau mỗi dịp Quách Hàm lên tỉnh. Sau thì nàng Tẻo theo Quách Hàm về châu Lạc Sơn. Và họ đã quan hệ với nhau như vợ chồng. Năm 1936, vào tuổi 19, Hoa hậu sứ Mường Quách Thị Tèo chính thức làm vợ thứ Tư của quan Châu Lạc Sơn Quách Hàm.

Lại có một chuyện buồn nhưng đáng để suy ngẫm về duyên phận hay định mệnh như sau:

Quách Hàm có một người em trai là lang Quách Lu. Người lang em này ngỗ ngược, chuyên mặc đồ Tây và ăn chơi sành điệu. Riêng vợ, Quách Lu đã có tới 17 người (sẽ có dịp trở lại với con người này). Mỗi lần từ tri châu về, Quách Hàm thường lấy thế làm anh để bảo ban Quách Lu, nhưng đâu lại vào đấy. Năm 1937, trong một lần hai bên to tiếng, Quách Lu đã cầm súng đuổi bắn Quách Hàm.

Vì bất ngờ, lang anh Quách Hàm chỉ còn biết bỏ chạy về nhà. Ở đằng sau, Quách Lu đã đuổi rất gần. Do khuất một lùm cây, Quách Lu không nhìn rõ Quách Hàm. Vừa chạy vào đến sân, thấy vợ mình là Quách Thị Tẻo bụng chửa to, mặc váy dài, rộng, không ngần ngại, Quách Hàm đã chui vào váy vợ mà ẩn nấp. Ngay sau đó Quách Lu, súng lăm lăm trong tay đuổi tới và chạy thẳng lên nhà sàn tìm bắn Quách Hàm. Lợi dụng khi Quách Lu đang tìm mình trên nhà sàn, Quách Hàm đã thoát ra ngoài an toàn.


Hoa hậu xứ Mường Quách Thị Tẻo


Cũng lại về chuyện Quách Hàm quyết lấy em nuôi làm vợ dẫn tới việc người cha Quách Vị rất giận. Kể từ khi Quách Vị bị Công sứ Moólơva xúc phạm, từ quan bỏ về ở Đồi Thung, cho đến khi bị ốm nặng cho người khiêng về Chiềng Vang, ông cũng không nói chuyện với con trai cả Quách Hàm. Ngay cả những ngày cuối cùng sắp từ biệt trần gian, con cái, người thân về phục thuốc đầy nhà, Quách Hàm đưa nàng Tẻo và hai con về, Quách Vị cũng chỉ nói chuyện với Quách Thị Tẻo như nói với con gái nuôi ngày xưa.

Còn đối với Quách Hàm, ông vẫn giận vì là một quan lang mà đã phá luật lệ nhà Lang, cả gan lấy em gái nuôi làm vợ. Việc tày đình ấy làm muối mặt ông và dòng dõi lang nhà ông. Nhất là, ông – một Chánh quan lang vừa nghỉ hưu. Vì thế, cho đến lúc chết, người cha Quách Vị vẫn không tha thứ cho con trai cả Quách Hàm.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ban Cán sự tỉnh Hòa Bình cử ông Quách Hàm làm cố vấn. Đến năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông Quách Hàm được cử làm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Hòa Bình. Năm 1954, hòa bình lập lại, ông Quách Hàm nghỉ hưu về quê nhà Mường Vang. Năm 1956, ông bị bệnh rồi mất. Phần mộ của ông hiện ở nghĩa trang dòng họ Đống Rổng làng Chiềng Vang xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn.

Từ một quan Tri Châu, Ông Quách Hàm đã đi theo cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược, làm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến, ông đã có công lãnh đạo và vận động thế lực lang đạo và dân chúng ủng hộ cách mạng. Chính nhờ vào đóng góp đó, ông được Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi.

Ngày nay, hậu duệ dòng họ Quách ở Chiềng Vang sống hòa đồng cùng bà con dân bản. Nhà Cái của họ bây giờ là một ngôi nhà sàn nhỏ do anh Quách Công Phiếm sinh 1963 – chắt đích tôn cụ Quách Vị, cháu đích tôn ông Quách Hàm đang ở và lo thờ tự.

Được đọc sách, được nghe người già kể về đời sống, sinh hoạt của tầng lớp lang đạo người Mường đã nhiều. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến những tấm ảnh gốc về họ Quách mà anh Quách Công Phiếm, cho xem. Theo anh Phiếm, nếu tôi dùng để in báo, thì đây là lần đầu tiên, những bức ảnh này được công bố. Câu chuyện về gia đình quan Lang ấy đến với tôi như một thiên truyện ngắn với đầy tình tiết mâu thuẫn vậy.

Lê Va

Một đám ma tốn trăm trâu ngàn gà

Thứ ba, 3/3/2009, 07:00 GMT+7

Chưa hết 15 ngày mo, Ậu cả nhẩm tính đã thịt trên 100 con trâu, 150 con lợn và hàng ngàn con gà để cúng tiễn đưa lang Đá – Quách Vị về mường Ma. Ngày đưa tang, huyệt mộ Lang Đá táng trên đồi cao mà trên quan tài để một bát nước đầy. Trong suốt quãng đường gập ghềnh vượt suối, băng đồi, bát nước ấy không sóng sánh ra ngoài một giọt…


Cuộc sống hiện đại với những chi tiết đã được tinh giảm cho phù hợp với hoàn cảnh cũng vẫn còn xót lại những hủ tục ma chay, cưới xin rườm rà, không cần thiết. Có biết về đám ma của một vị quan Lang xưa chúng ta mới thấy hết vẻ bề thế cũng như sự rườm rà của nó.


Chánh quan lang Quách Vị trước khi từ quan

Sau hơn 30 năm, từ lúc hai mươi tuổi cho đến khi ngoài năm mươi, từ quan Thông sự Tri châu, phó Tri châu, Tri châu, quan Án sát rồi liên tiếp hai khóa làm Chánh quan Lang – Tuần phủ tỉnh Hòa Bình, nay từ quan về lại quê nhà Mường Vang, Quách Vị rất buồn. Ông không ở trung tâm Chiềng Vang mà bỏ lên làng Pol thuộc Đồi Thung, nơi núi rừng có độ cao trên ngàn mét so với mực nước biển để sống những ngày cuối đời. Tại đây còn lại một nhà khách, ông cho xây cất để thỉnh thoảng vợ chồng Công sứ Tuyxtơ lên nghỉ ngơi, săn bắn và tắm nước khoáng nóng.

Hàng ngày cô đơn thẩn thơ trong rừng, trước mây vờn, gió giỡn, ông lại chợt nhớ đến những năm tháng quan trường với bao niềm vui và cũng không ít nỗi buồn. Nhớ nhất là hành trình vào Huế yết kiến vua Bảo Đại. Trên quãng đường dài thế, đến đâu ông cũng được Tuần phủ các tỉnh đón tiếp long trọng nào ngựa, nào xe. Thế mà bây giờ, muốn đi đâu lại phải có người khiêng võng không khác gì người ốm. Càng buồn, Quách Vị càng xa lánh người thân. Ông không muốn cho ai lên thăm. Hàng ngày, chỉ vài thuộc hạ phục dịch.

Sau gần chục năm ở ẩn trong rừng, vào cuối năm 1943, Lang Đá – Quách Vị thấy đã yếu lắm rồi, ông mới chịu cho phu phen khiêng về nhà cái ở làng cũ Chiềng Vang. Tuy không còn là Chánh quan lang nhưng Quách Vị vẫn là Lang Đá – lang ông với vị thế được đặc biệt tôn kính. Mặt khác, con trai cả của ông là Quách Hàm đang là Quan Tri châu Lạc Sơn nên không những thần dân mà hàng ngũ nhà lang các họ, các miền tới thăm ông tấp nập. Vào cuối mùa đông năm 1943, ông qua đời ở tuổi 60. Thế là một con người không có hai vành tai, hai lần làm Chánh quan lang sứ Mường Hòa Bình, sinh năm Quý Mùi, lại từ giã cõi đời vào đúng năm Quý Mùi, vừa tròn một Hoa giáp.

Người già ở Chiềng Vang kể: Vào một buổi sáng sớm cuối đông năm 1943, trời rét như cắt da, cắt thịt. Khi bản làng còn chìm trong sương mù thì bỗng nổi lên 3 hồi trống đồng làm rung chuyển cả núi rừng báo tin Lang Đá đã về mường Ma. Sau đó, các Ậu lam – người giúp việc Lang mới cầm chiêng chót gõ từng hồi đi báo tin cho rõ đến các mường:

- Chiềng Mường, Chiềng xóm. Đêm qua Lang Đá mường ta đã về mường Ma. Hỡi người các mường ơi! Hỡi bố mế, phà khà ơi! Lang Đá ta mất rồi! Bóng, bóng, bóng…cứ thế, cái tin lang Đá về mường Ma được loan rộng. Và cứ thế, người người từ trong nhà chạy ra ngoài sân, hướng về phía nhà Lang Đá mà khóc lóc, kể lể như chính cha mình chết. Rồi không ai bảo ai, họ thay quần áo, váy trắng, bỏ tóc xõa để đến nhà tang chủ mong được nhìn mặt vị Lang Đá của mình lần cuối lìa.

Tại gian chính giữa nhà Cái, một chiếc màn trắng buông chùm sập gụ chân quỳ khảm trai long, ly, quy, phượng. Hai cánh màn được mở rộng, Lang Đá mặc áo gấm đỏ, đầu đội mũ cánh chuồn là những phẩm vật vua Bảo Đại ban. Từ trong màn thoảng ra một mùi đặc biệt của hoa lá thơm của núi rừng. Từng đoàn người đi dọc theo dãy đồ đồng đặt trên sàn nhà mà đến quỳ lạy trước thi thể người quá cố. Ở dưới sân, người ta vừa khiêng một chiếc trống đồng rất to từ trong khu rừng mộ về, tượng trưng cho sự linh thiêng của linh hồn Lang Đá. Chiếc trống này được mang lên nhà và phủ nhiễu đỏ. Hương nến được đốt lên để ông Mo cúng thần trống. Sau đó là bắt đầu 15 ngày đêm liên tiếp mo cho Lang Đá lên mường Trời.



Đám ma Lang Đá



Thời gian mo rất dài, mo liên tục không nghỉ, nên tất cả những ông mo giỏi trong vùng được triệu đến. Họ thay nhau đọc thuộc lòng những bài mo dài dằng dặc được truyền miệng từ ngàn xưa. Quan lang các vùng cùng tùy tùng vài chục người mỗi đoàn, dắt trâu, gánh xôi, gạo, rượu, thịt đến phúng viếng Chánh quan lang Quách Vị:

-Thương ôi! Quan Chánh Lang của trăm đất, trăm miền đã về chầu phật, chầu tiên. Người mường chúng tôi lòng đau dạ xót. Hôm nay đến đây lạy người! Ô hô, thương ôi!

Quan Tri châu Quách Hàm là con trai trưởng đón lời:

…Đầu cha tôi quay về hướng Đông Bắc, nhìn ra tỉnh lỵ Hòa Bình. Sau 15 ngày đêm nghe mo kể nhòm mường lúc cuối lìa, nghe mo kể Đẻ đất, đẻ nước, nghe chuyện Nàng Nga hai mối, nghe cho đủ chuyện, đủ trò, rồi theo ông Mo dẫn lối, Ậu Chí Chuốc gánh đồ về mường Ma đống Rổng phía Tây Bắc, đồi mường Chiềng ta đây.

Lang cả Quách Hàm rứt lời, các lang em cùng con cháu đồng thanh khóc lóc và lăn vào áo quan trong tiếng trống, kèn của 12 phường bát âm tấu lên các khúc xinh tiền, lưu thủy, hành vân… âm vang cả cánh đồng Chiềng Vang rồi vọng vào vách núi. Cứ thế cho đến đêm thứ 15, là đêm mo cuối lìa – đêm mo cuối cùng con dân các mường còn được ở gần lang Đá của họ. Họ thức cả đêm chờ đến sáng hôm sau.

Đêm ấy, hàng trăm ngọn nến được thắp lên, mấy chục ngọn đèn dầu lạc được đốt sáng. Trong ánh sáng bập bùng, hàng ngàn người, tóc xõa, khăn trắng thắt ngang đầu với nét mặt buồn rười rượi ngồi kín sàn, đặc sân, ngõ chờ thời khắc đưa lang Đá về mường Ma.

Khoảng 7 giờ sáng hôm sau, một hồi “ chiêng vàng, chiêng bạc” tấu lên cùng tiếng trống đồng trầm hùng rung động núi rừng, báo hiệu đã đến giờ đưa lang Đá về nơi an nghỉ cuối cùng. Một ông mo chính mặc áo dài đen, đầu đội mũ vuông bằng da hổ, tay cầm kiếm dài, cùng 6 ông mo phụ ngồi một bên gần quan tài, đối diện với bên kia là thân thích của người đã chết. Ông mo chính bắt đầu hâm mo để các mo phụ đứng lên, tang gia thôi khóc để nghe mo:

-Bố Đá đi cam thương, cam khốn, cam khốn lại cam sầu, cam rầu rầu nước mắt chảy ra…



Quách Công Phiếm (người bên trái) - Chắt đích tôn cụ Quách Vị, cháu đích tôn ông Quách Hàm:



Giọng ông mo lên bổng, xuống trầm sao mà ai oán. Rứt lời, các bà vợ, con dâu, cháu chắt lại rộ lên tiếng khóc lâm ly, thảm thiết. Cả ngàn người có mặt cùng nghe các ông mo thay nhau kể đoạn cuối “ Cơi tếch, cơi lia” (cõi đứt, cõi lìa). Các con cháu để tang cho đủ 3 năm, 6 tháng, mặc áo trái hết hạn mới thôi… Nay là ngày tận, việc đêm, mo đã hết.

Ông Mo dứt lời, tiếng trống đồng khùng khùng chậm chạp nổi lên, tấu với cồng chiêng bong bong, bi bi cho đủ 3 hồi, chín tiếng. Rồi cả ngàn người từ các lang đạo cho đến thứ dân, từ trên nhà sàn xuống đến sân, ra đến ngõ xếp thành hàng chuyền tay nâng quan tài Lang Đá. Cùng lúc tiếng khóc của ngàn người cất lên náo động cả núi rừng.

Mười hai người đội vải căng ra làm cầu. 24 thanh niên trai tráng đều buộc dây chuối ở thắt lưng, nghe theo hiệu lệnh mà đứng thứ tự theo vị trí đã được xếp, mắt không rời bát nước đầy đặt trên đòn khiêng mà chuẩn bị cất bước. Dọc hai bên đường từ nhà đến nơi mộ huyệt là rất nhiều cây lêu và cờ, phướn bay phấp phới. Đến chân đồi nơi đặt nghĩa địa, chiêng chót phát lệnh đặt áo quan xuống và ông mo làm thủ tục cuối lìa. Con cháu đi quanh áo quan 3 vòng theo 3 hồi chiêng. Sau đó chiêng lệnh hồi Một thì đội phu đặt tay vào quan tài, hồi Hai thì nâng lên vai, hồi Ba thì bước lên đồi. Đến lúc này, bát nước đầy đặt trên áo nắp quan tài vẫn không sánh ra ngoài một giọt cho đến nơi hạ huyệt tại đống Rổng mường Vang.

Những hòn đá (hòn khụ) cao to bằng người thật được đục đẽo cẩn thận, chạm rồng mây, khắc chữ Nho và khênh lên từ hôm trước được dựng thành hàng rào quanh phần mộ lang Đá. Lúc này chính ngọ ngày 18 tháng 12 năm 1943.

Cuộc đời của vị chánh quan Lang không tai khép lại. Mọi việc diễn ra rồi cũng chìm vào yên lặng của núi rừng tây Bắc. Đứng trước cảnh sắc mường Vang, ngẫm về cái được và không được, người viết bài thầm mong thế hệ con cháu các quan lang xưa gìn giữ, phát huy những mặt tích cực để hình ảnh đẹp của dòng quan Lang không lùi sâu vào trong sử sách.

Lê Va

Chuyện về Chánh quan Lang không tai

Thứ hai, 2/3/2009, 07:00 GMT+7

Năm 1932, khi được vua Bảo Đại vời vào kinh đô Huế yết kiến, Chánh quan Lang tỉnh Mường Hòa Bình Quách Vị đã đưa người con gái nuôi xinh đẹp cùng đi. Trong lần ấy, Quách Vị được vua ban cho một bộ cẩm bào và mũ cánh chuồn thay cho đôi tai thật mà Quách Vị không có.


Xứ Mường Hòa Bình xưa, cùng với 4 mường: Bi, Vang, Thàng, Động là các dòng họ lớn: Đinh, Quách, Bạch, Hà nối đời làm Lang cai quản. Đối với từng dòng họ thì con trai trưởng làm Lang Cả, con trai thứ làm Lang em chia nhau đi Ăn Lang (cai quản) từng vùng. Toàn tỉnh có một hội đồng Quan Lang gồm 12 thành viên. Trong đó đứng đầu là Chánh Quan Lang mà quyền thế như ông vua một vùng.


Chánh quan Lang Quách vị được vua Bảo Đại ban cho mũ cánh chuồn thay vào đôi tai mà ông không có


Vùng đất Mường Vang, Mường Vó nằm gọn trong một thung lũng rộng lớn, với diện tích lúa nước lên đến hàng ngàn ha, thuộc 7 xã: Miền Đồi, Quý Hòa, Tuân Đạo, Tân Lập, Mỹ Thành, Văn Nghĩa và Nhân Nghĩa của huyện Lạc Sơn ngày nay. Các cụ già ở vùng này vẫn thường ngâm nga cho con, cháu nghe bài thơ cổ ca ngợi cảnh đẹp của vùng Mường Vang:

Bốn bề rừng rậm núi nguy nga

Nước hát chim ca cảnh thái hòa

Man mác trời mây bày trăm vẻ

Dập dìu hoa lá thác ngân nga

Trời xanh cũng khéo tựa chiều ta

Bốn bề non nước ấy cảnh nhà

Hòa cùng trời đất đưa hương sắc

Bông thơm trái ngọt nở muôn hoa

Về Mường Vang hôm nay, chưa chắc bạn đã hình dung ra sự trù phú khi xưa của nó. Nhưng tiếp xúc với gia đình quan lang cũ ở đây, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên về uy quyền và sự thịnh vượng của Lang Cun Mường.

Khi xưa, cai quản vùng đất trù phú, nên thơ này là dòng lang họ Quách mà dinh thự đặt tại trung tâm xã Tân Lập để thay nhau ăn lang ở vùng Chiềng Vang. Không biết là đời thứ bao nhiêu, nhưng vào một ngày lành, tháng tốt, mưa thuận, gió hòa của năm 1883, bà Chu – vợ lang Cun (Lang to) Quách Tiết sinh ra người con trai và đặt tên là Quách Vị. Quách Vị ngay từ lúc ra đời đã có khuôn mặt rất đẹp nhưng lại không có cả hai vành tai. Càng lớn, Quách Vị càng khôi ngô, thông minh và cao lớn hơn người.

Sinh ra và lớn lên trong gia đình dòng dõi quan lang, Quách Vị được nuôi dưỡng chu đáo và được ăn học cẩn thận. Xác định bổn phận sau này thay cha làm Lang Cả cai quản thần dân nên Quách Vị càng cố gắng học tập và rèn luyện, tiếp cận vị thế tương lai của mình. Năm 1903, khi mới 20 tuổi, Quách Vị được bổ làm Thông sự Tri Châu Lạc Sơn nên càng có điều kiện, giao lưu, tiếp kiến với người Pháp và các quan lang trong vùng. Với những cố gắng của mình, 5 năm sau, mới 25 tuổi, Quách Vị được thăng làm Phó Tri châu, rồi Tri châu Lạc Sơn.

Đêm mồng 2, rạng sáng mồng 3/8/1909, từ hang Can (thuộc xã Độc Lập ngày nay), Tổng Kiêm và Đốc Bang dấy quân khởi nghĩa đánh chiếm tỉnh lỵ Hòa Bình. Sau khi đánh vào tỉnh lỵ, tiêu diệt được một số quan, quân Pháp, thu được không ít vũ khí và lương thực, nghĩa quân theo sông Đà rút về đồn trú ở vùng núi Viêm Nam để phục binh đánh Pháp lâu dài. Trước tình hình trên, Quách Vị được lệnh mang quân Sơn dõng của Châu Lạc Sơn ra bảo vệ tỉnh lỵ và truy kích quân khởi nghĩa. Mãi tới cuối năm 1910, do lực lượng không cân sức, quân khởi nghĩa thất bại, lãnh tụ của họ bị bắt và đày ra Côn Đảo, chấm dứt cuộc khởi nghĩa yêu nước của Tổng Kiêm, Đốc Bang.


Chánh quan Lang Quách Vị ở cung đình Huế (người đứng giữa)


Do chiến công này, Quách Vị được người Pháp chú ý nhưng còn phụ thuộc vào Hội đồng Quan Lang cấp tỉnh, nên ông tiếp tục về làm Quan Tri châu Lạc Sơn. Cho đến 1920, nghĩa là 10 năm sau, khi đã “cứng cáp”, Quách Vị mới được bầu vào Hội đồng Quan lang gồm 12 người. Hội đồng Quan lang lại bầu ra 6 vị từ Chánh quan lang và 5 chức sắc tiếp theo. Trong 6 người ấy, Quách Vị được bầu là quan Án sát. Đến năm 1925, Quách Vị trúng liền 2 khóa làm Chánh Quan Lang tỉnh Mường – tương đương với quan Tuần phủ người Kinh.

Ông Quách Vị có bốn người vợ, trong đó có 2 vợ thuộc dòng dõi nhà Lang. Đinh Thị Yên – vợ cả đẻ được con trai Quách Hàm.Vợ hai là Quách Thị Yềm, người Mường Vang lại không biết sinh con; người vợ thứ Ba, thứ Tư là Bùi Thị Mếu và Bùi Thị Bì không thuộc dòng dõi nhà Lang nên phải chịu gọi là “vợ nuôi”. Cả 4 bà vợ đều ở quê nên Quách Vị ở trên tỉnh có một mình. Ngay từ khi còn làm quan Án sát, Quách Vị đã làm giấy nhận một người con gái của vợ chồng người hầu bếp làm con và đổi sang họ Quách.

Năm 1932, khi được vua Bảo Đại vời vào kinh đô Huế yết kiến, Chánh quan lang Quách Vị đã đưa người con gái nuôi xinh đẹp cùng đi. Trong lần ấy, Quách Vị được vua ban cho một bộ cẩm bào và mũ cánh chuồn thay cho đôi tai thật mà Quách Vị không có. Sau, người con gái nuôi này chính là hoa hậu sứ Mường vào các năm 1932 - 1933. Và rồi trở thành con dâu ngoài ý muốn của Quách Vị. (sẽ đề cập ở phần sau)

Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, ở miền núi Hòa Bình, tuy đã có Hội đồng Quan Lang do Chánh Quan Lang đồng thời là quan Tuần phủ người Mường đứng đầu tỉnh, nhưng toàn quyền lại do Quan Công sứ người Pháp quyết định. Bên cạnh quan Công sứ thì Phó Công sứ cũng là người Pháp. Vào năm 1934, Công sứ Tuyxtơ, hết nhiệm kỳ được triệu về nước, Moóclơva được bổ nhiệm là Công sứ mới cai quản tỉnh Mường Hòa Bình. Trong buổi “Tống cựu, nghinh tân”, thấy Chánh Quan lang Quách Vị thể hiện sự lưu luyến với cựu Công sứ mà không mấy đậm đà với tân Công sứ, nên Moóclơva đã buột miệng mắng ông là “Đồ con lợn”.

Đối với người phương Tây, đó không phải là câu nói xúc phạm. Nhưng đối với một Chánh Quan Lang người Mường thì quả là quá xúc phạm. Nhất là đối với người dân tộc Mường, vốn lại không phân biệt mắng, chửi như người Kinh. Nghĩa là nếu đụng chạm đến nhau, đối với họ đều là chửi. Chính thế, Quách Vị nổi đóa và văng tục trước mặt Công sứ Moóclơva: “Tao đút C vào làm nữa”, rồi sai thuộc hạ bốc đồ đạc trở về Mường Vang. Nhìn nhận sự việc trên không phải để thấy vị Lang không tai kia nóng tính, bảo thủ của tính cách bản địa. Con người bộc trực ấy từ chức quan, vào rừng ở cho đến cuối đời. Để rồi thế hệ con cái sau đó có điều kiện tham gia kháng chiến.


Chánh quan lang Quách Vị trên đường kinh lý


Hệ thống Lang đạo bề thế, chặt chẽ từ ngàn xưa được sinh dưỡng, ủ ấp trong miền núi rừng Hòa Bình với những quy tắc bền chặt của “Đất có Lang, làng có phép”. Trong kho tàng dân gian truyền miệng của người Mường còn lưu:

Lang từ khởi tổ ngày xưa

Cuối Văn Lang quốc bây giờ đã xa

Mỗi cành con cháu phong ra

Họ chia Đinh, Quách, Bạch, Hà, Xa, Cao

Trải nơi rừng rậm đồi cao

Rủ đưa thầy tớ tìm vào khai hoang

Phá rừng núi mở ruộng nương

Chiêu dân lập ấp ruộng đường vào ra

Sau này con cháu nhiều ra

Đặt nên châu, tổng cùng là xã thôn

Dòng Lang thêm nức tiếng đồn

Cái danh quý tộc vần còn tiếng sang

Trai thời truyền gọi quan lang

Gái thời truyền gọi mãng nàng là tên

Kim chi ngọc điệp nối truyền

Mường trong phục ý, vua trên thuận tình

Sử sách có ghi nhận công lao đóng góp của tầng lớp Lang đạo trong việc giữ yên bờ cõi ở những vùng phên giậu của đất nước. Đặc biệt các nhà Lang dòng họ Đinh, Quách, Bạch, Hà của Hòa Bình tuyệt đối trung thành với Nhà Lê. Chính vì thế mà đến thời Gia Long và Minh Mạng đã không mấy cảm tình với các quan Lang người Mường, nên đã có một thời tước dần quyền cai trị tỉnh Mường của các thổ lang bản địa. Nhưng sau thấy không ổn, lại phải phục quyền cho họ. Trong tờ trình số 481 ngày 20/01/1904 của Viện Cơ mật có đoạn: “ Triều đình chưa ban bố một luật lệ nào làm ảnh hưởng đến quyền hành chính hay tư pháp của các quan lang”. Rồi Viện Cơ mật kết luận: “Những vấn đề này, Nhà Vua vẫn để cho các quan lang đưa vào lệ cổ của dân tộc ít người đó”.

Xuất phát từ thực tế như trên, Hội đồng Quan lang lại do toàn thể các lang bầu. Và Chánh quan lang lại do Hội đồng quan lang bầu ra. Tiếng nói của họ đặc biệt có uy tín đối với dân chúng người Mường. Vắng Chánh quan lang, công việc hàng tỉnh gặp không ít khó khăn, nên nhiều lần quan Công sứ Moóclơva cho Thông phán cầm thư vào mời Quách Vị trở lại nhiệm sở nhưng ông đã cương quyết từ chối.

Từ quan về ở ẩn trong rừng, ông Quách Vị được gia tộc và dân Mường Vang gọi là Lang Đá (Lang Ông). Không ai dám gọi tên thật của ông, vì con trai ông đã làm quan Tri châu rồi. Câu chuyện về gia tộc ông Lang không tai còn tiếp diễn ở đời sau.

Lê Va

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2008

Lật lại hồ sơ những kẻ lừa đảo nổi tiếng nhất mọi thời đại (2)

Thứ Sáu, 24/10/2008 - 4:14 PM



5. Joseph Whale (1875-1976) - Ông chủ ngân hàng "dỏm"

Mussolini, trùm phát xít Italia, cũng từng là một trong số rất nhiều các nạn nhân của Joseph Whale - một trong những kẻ lừa đảo quốc tế thành công nhất nước Mỹ.

Whale đến Italia dưới lốt một kỹ sư công nghiệp mỏ để bán cho Mussolini quyền khai thác mỏ quặng giàu có ở bang Colorado (Mỹ). Phi vụ làm ăn trót lọt đó giúp y thu lợi 2 triệu USD lấy từ quỹ của Mussolini và cao chạy xa bay trước khi Cơ quan mật vụ Italia kịp phát giác vụ việc.

Một cú lừa ngoạn mục khác và nổi tiếng nhất của Whale là vụ Ngân hàng thương mại quốc gia Munsee. Khi ngân hàng này chuyển đến địa điểm mới, ngay lập tức Whale thuê lại ngôi nhà trống đó và thành lập một ngân hàng khác chỉ để thực hiện duy nhất một vụ giao dịch. Joseph Whale không giỏi về lừa đảo, mà là thiên tài về tổ chức. Hắn thuê cả một đám du thủ du thực đóng giả nhân viên ngân hàng, nhân viên bảo vệ và khách hàng để diễn cảnh giao dịch y như tại một ngân hàng thật sự.

Mục tiêu nhắm tới của Whale trong thời gian đó là các triệu phú người Chicago với thông tin bí mật bị “bị rò rỉ” rằng chủ ngân hàng (và cũng chính là y) đang nắm quyền giao dịch một khu đất của chính phủ có giá chỉ bằng 1/4 giá thị trường.

Một vị khách đã trúng câu. Người này được đưa tới ngân hàng của Whale và được chứng kiến một vở kịch diễn cảnh giao dịch hết sức chuyên nghiệp do các “nhân viên” của y thực hiện. Bị thuyết phục trước cung cách làm ăn chuyên nghiệp đó, vị khách này quyết định mua khu đất và trao cho y 400 nghìn USD bằng tiền mặt mà không hề hay biết giấy tờ mình đang giữ chỉ là đồ giả.

Joseph Whale bị bắt và ngồi tù 10 năm. Y chết năm 1976 hưởng thọ 101 tuổi.

6. Victor Lustig (1890-1947) - Kẻ hai lần rao bán tháp Eiffel

Victor Lustig sinh năm 1890 tại Bohemia, khi đó thuộc Đế quốc Áo-Hung. Khi tốt nghiệp phổ thông Lustig đã thông thạo 5 ngoại ngữ: Séc, Anh, Pháp, Đức, Ý. Sau một thời gian lang thang khắp châu Âu, Lustig quyết định định cư tại Paris.

Y được mệnh danh là tên tội phạm “vĩ đại” nhất mọi thời đại, một bậc thầy về nghệ thuật lừa đảo với 45 tên giả. Chỉ riêng tại Mỹ, Viktor Lustig đã bị bắt 50 lần, nhưng lần nào y cũng được thả do không có bằng chứng để kết tội.

Đầu Thế chiến I, Lustig cầm đầu một tổ chức cờ bạc bịt bợm trên những chuyến tàu du lịch xuyên Đại Tây dương. Vào những năm 1920, y hay du lịch đến Mỹ và chỉ trong vòng 2 năm đã lừa đảo lấy đi hàng trăm ngàn USD từ các ngân hàng và các doanh nhân nước này.

Tuy nhiên, tất cả những vụ lừa đảo đó chỉ là chuyện “cỏn con” chẳng thấm vào đâu so với việc Lustig dám cả gan rao bát bán tháp Eiffel - một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của nước Pháp.

Vào năm 1925, tình cờ Lustig đọc trên một tờ báo nói về những khó khăn tài chính lớn của Tòa thị chính thủ đô Paris trong việc duy tu tháp Eiffel. Lập tức, bộ óc “thiên tài” của y đã phác họa ra một kế hoạch táo bạo và quyết định bắt tay ngay vào việc thực hiện.

Hắn ta làm giấy tờ giả, mạo nhận mình là Thứ trưởng Bộ Bưu điện Pháp, sau đó làm giấy mời giả và mời 6 nhà tư bản ngành luyện kim đến một khách sạn sang trọng để bàn bạc về số phận tháp Eiffel. Tại đây Lustig nói rằng, chi phí tu sửa tháp Eiffel quá lớn, Chính phủ không đủ sức gánh vác nên dự định sẽ bán danh thắng lịch sử này làm sắt vụn thông qua một cuộc đấu giá kín. Làm ra bộ để tránh phản ứng dữ dội từ phía dư luận, y thuyết phục những người tham dự hôm đó phải giữ kín chuyện này.

Tháp Eiffel có tổng khối lượng lên đến 9.000 tấn, trong đó có 7.300 tấn thép, thế nhưng giá khởi điểm mà vị “Thứ trưởng” này đưa ra lại thấp hơn rất nhiều so với giá thực tế trên thị trường. Điều đó tạo nên cơn sốt cho các nhà đầu tư. Nhiều người đã phải chi những khoản tiền “đi đêm” rất lớn với y để mong được trúng thầu. Cuối cùng, quyền tháo dỡ tháp thuộc về triệu phú Andre Poisson, sau khi đã trao cho Lustig một khoản tiền lên đến 50.000 USD.

Phải đến mấy ngày sau, khi Andre Poisson đưa công nhân đến để tháo rỡ tháp Eiffel thì mới vỡ lẽ ra là mình bị lừa, còn Lustig lúc đó đã cao chạy xa bay với một va li tiền nặng trịch. Andre Poisson đã thật sự bị sốc vì sót của, nhưng sợ bị “mất mặt” nên đành nín lặng, không đệ đơn kiện kẻ đại bịp kia.

Đầu những năm 1930, Viktor Lustig quay trở lại Paris và tiếp tục lừa bán tháp Eiffel một lần nữa. Phi vụ lừa bán tháp Eiffel lần thứ hai này cũng trót lọt và y đã thu được 75.000 USD tiền mặt.

“Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma”, cuối cùng Lustig kết thúc sự nghiệp lừng danh của mình ở nhà tù Alcatraz - California (Mỹ) vào năm 1935 sau khi bị kết án 15 năm tù vì tội làm tiền giả và thêm 5 năm vì tội trốn tù. Năm 1947, Lustig chết tại đây vì bệnh sưng phổi.

7. Ferdinand Demara (1921-1982) - "Kẻ mạo danh vĩ đại"

Ferdinand Demarra được biết đến với cái tên “Kẻ mạo danh vĩ đại”. Trái ngược với Christopher Rocancourt, động cơ của “chuyên gia giả mạo” này không phải vì tiền bạc, mà chỉ đơn thuần để thỏa mãn những cảm giác mạnh khi hóa thân thành những con người khác nhau và hòa nhập vào mọi tầng lớp xã hội.

Trong cuộc đời, y đã thủ rất nhiều vai khác nhau như: kỹ sư xây dựng, quận phó, nhân viên cai ngục, bác sĩ tâm lý, luật sư, chuyên gia của Tổ chức bảo vệ trẻ em, thầ tu, biên tập viên, chuyên gia về ung thư, bác sĩ phẫu thuật và giáo viên… Điều kỳ lạ là, mặc dù có trình độ học vấn thấp (chưa tốt nghiệp Trung học phổ thông), thế nhưng trong bất kỳ vai nào y cũng diễn một cách hết sức tài tình kể cả về tài tùy cơ ứng biến lẫn chuyên môn trong từng vai diễn.

Vai diễn đầu tiên của Demarra là một nhân viên phục vụ trong Quân đội Mỹ vào năm 1941, núp dưới cái tên của một người bạn.

Vai diễn nổi tiếng nhất của Demarra là vai bác sĩ phẫu thuật Joseph Kear. Phải nói rằng, y vô cùng khéo léo để có thể xoay xở được vai bác sĩ phẫu thuật trong một thời gian dài khi diễn ra cuộc chiến Mỹ - Triều Tiên. Các bệnh nhân của y lúc đó đều đươc chữa trị bằng những liều kháng sinh hào phóng. Demarra chỉ bị lộ diện khi bà mẹ của bác sĩ Joseph Kear thật phát hiện ra và báo cho chính quyền.

Ferdinand Demarra mất năm 1982 thọ 61 tuổi. Cuộc đời và sự nghiệp của con người này đã được viết thành truyện và được dựng thành bộ phim có tên "The Great Imposter".

8. Frank Abagnale (1948) - "Hãy bắt tôi nếu có thể"

Tuy chỉ mới 17 tuổi, thế nhưng Frank Abagnale đã nhanh chóng trở thành một trong những tên cướp ngân hàng thành công nhất trong lịch sử nước Mỹ. Câu chuyện đó bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước. Bằng những tấm séc ngân hàng tự tay làm giả một cách khéo léo, Abagnale đã dễ dàng cuỗm đi gần 5 triệu USD của rất nhiều các ngân hàng khác nhau.

Tất cả điều này đều diễn ra khi Abagnale chưa tròn 20 tuổi. Đặc biệt, y gần như có mặt thường xuyên trên các chuyến máy chở khách để đi khắp thế giới khi tự nhận mình là phi công của Hãng hàng không PanAm.

Chỉ trong có 5 năm, Abagnale đã trải qua đến 8 nghề, và những trò bịp bợm của y đã gây thiệt hại trên diện rộng với nạn nhân là các ngân hàng tại 26 nước trên thế giới.

Trong cuộc đời của mình, Abagnale đã thủ rất nhiều “vai” như giáo sư xã hội học, bác sĩ nhi khoa trong một bệnh viện ở bang Georgia... Tuy nhiên, chiến tích lẫy lừng nhất của y là tự “vẽ” cho mình bằng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Harvard để được nhận vào làm việc tại văn phòng của Tổng chưởng lý bang Louisiana.

Điều trớ trêu là, Abagnale bắt đầu “khởi nghiệp” khi mới có 16 tuổi và nạn nhân đầu tiên lại chính là cha đẻ của y. Năm 21 tuổi thì Abagnale bị bắt, nhưng sau đó thì được tha và đầu quân cho Cục Điều tra liên bang (FBI) với vai trò là chuyên gia chống làm giả.

Những cuộc phiêu lưu của y đã trở thành cảm hứng để dựng thành bộ phim nổi tiếng “Hãy bắt tôi nếu như có thể” với diễn xuất của nam tài tử Leonardo Di Caprio trong vai chính.

Anh Nguyễn

Tổng hợp

Lật lại hồ sơ những kẻ lừa đảo khét tiếng nhất mọi thời đại (1)


Lật lại hồ sơ những kẻ lừa đảo két tiếng nhất sẽ đem đến cho chúng ta một góc nhìn hoàn toàn mới về những “thiên tài” không được đặt đúng chỗ này.

1. George Psalmanazar (1679-1763) - Người Formosan đầu tiên đến châu Âu

George Psalmanazar được mệnh danh là kẻ nói dối tài năng nhất từ trước đến nay. Y đã mê hoặc cả nước Anh trong một thời gian dài với những câu chuyện bịa đặt vô cùng hấp dẫn.

Psalmanazar tự nhận mình là người đến từ một vùng đất bí ẩn, lần đầu tiên đặt chân đến châu Âu. Y có thể nói một thứ tiếng không ai biết, ăn mặc những kiểu quần áo chẳng giống ai và thực hành những nghi thức kỳ dị,… nhưng có điều lạ là y có vẻ bề ngoài rất giống với người châu Âu.

Psalmanazar luôn quả quyết rằng mình đến từ hòn đảo Formosan xa xôi, nơi trước đây y bị một bộ lạc bản địa bắt làm tù binh, và kể lại rất tỉ mỉ về nhưng phong tục tập quán kỳ lạ ở dó.

Trình độ nói dối của Psalmanazar thành công đến mức y còn tự viết thành sách mô tả lại khá cụ thể hòn đảo kỳ lạ này. Theo cuốn sách “Mô tả về lịch sử và địa lý đảo Formosan” mà y đã cho xuất bản, những người đàn ông trên đảo không mặc quần áo mà lúc nào cũng “trần như nhộng” với món ăn yêu thích của họ là rắn.

Ngoài ra, y còn đi nhiều nơi để thuyết trình về lịch sử và ngôn ngữ của vùng đất kỳ lạ do chính y bịa ra, thậm chí còn dịch các tác phẩm văn học không hề có thực của vùng đất hư cấu ấy.

Trò bịp bợm chỉ kết thúc vào năm 1706 khi bản thân Psalmanazar cảm thấy quá mệt mỏi với vở kịch “tự biên tự diễn” của mình và thú thật với bạn bè.

2. Mary Baker - Công chúa Caraboo bị bắt cóc

Gần giống với trường hợp của George Psalmanazar, “nữ quái” Mary Baker đã mê hoặc mọi người xung quanh bằng cách đóng vai đóng vai công chúa Caraboo bị bọn cướp biển bắt cóc từ một hòn đảo trên ấn Độ Dương.

Chuyện kể rằng, vào năm 1817, một người thợ đóng giày ở Anh, bắt gặp một thiếu nữ bị lạc đường trong bộ trang phục hết sức lạ lùng và đẹp mắt. Cô gái này nói thứ tiếng mà không một ai hiểu được. Người dân địa phương đã phải nhờ đến không biết bao nhiêu người nước ngoài khác nhau để cố gắng hiểu được cô gái đó đang nói gì. Rất may, cuối cùng cũng có một thủy thủ người Bồ Đào Nha hiểu được phần nào câu chuyện của cô gái. Cô ta nói rằng mình là công chúa Caraboo đến từ hòn đảo Javasu thuộc Ấn Độ Dương.

Cô bị bọn cướp biển bắt cóc nhưng đã may mắn trốn thoát được khi thuyền đi qua kênh Bristol rồi bơi vào bờ. Trong suốt 10 tuần sau đó, cô công chúa kỳ lạ này luôn là đề tài yêu thích trong những câu chuyện của người dân địa phương. Cô sử dụng cung tên rất thành thạo, leo trèo cây rất giỏi, hát bằng thứ ngôn ngữ kỳ lạ và cầu nguyện chúa trời mà cô gọi là Allah Tahhah.

Thế nhưng, sự thật cuối cùng cũng được phơi bày. Cô công chúa Caraboo hóa ra chỉ là con gái của người thợ đóng giày tên là Mary Baker đến từ Devon. Cô công chúa tự xưng này từng là một hầu gái làm việc tại nhiều cung điện trên khắp nước Anh. Ả tự sáng tác ra thứ ngôn ngữ kỳ quái chỉ có trong tưởng tượng và khéo léo biến nó thành một câu chuyện như thật. Đặc biệt “Công chúa Caraboo” còn công du đến cả Mỹ, Pháp và Tây Ban Nha mặc dầu không gặt hái được nhiều thành công như ở Anh.

Câu chuyện của ả là nguồn cảm hứng sáng tác của nhà viết kịch John Wells khi ông này làm bộ phim Công chúa Caraboo năm 1994.

3. Wilhelm Voigt (1849-1922) - viên đại úy vùng Köpenick

Wilhelm Voigt được ghi nhận là một kẻ lừa đảo táo bạo, một tên cướp liều lĩnh, khét tiếng bậc nhất trong lịch sử nước Đức. Voigt đã từng đóng nhiều vai để lừa đảo, nhưng thành công và nổi tiếng nhất phải kể đến vai y đóng giả một viên đại úy vào năm 1906.

Ngay từ nhỏ, Wilhelm Voigt đã nổi tiếng về trộm cắp. Khi mới 14 tuổi, y đã bị bắt giam 14 ngày vì tội ăn cắp. Từ năm 1864 đến năm 1891, y còn bị bắt giam thêm 4 lần vì tội trộm cắp và 2 lần vì tội làm giả giấy tờ.

Phi vụ lớn nhất và thành công nhất mà y đã từng thực hiện bắt đầu vào năm 1906. Voigt mua một một bộ quân phục đại úy đã sử dụng ở Köpenick rồi đến các đơn vị quân đội đóng ở gần đó. Ngày 16/10/1906, trên đường đi, Voigt tình cờ gặp 2 tiểu đội lính cảnh vệ. Y giơ ra một một mệnh lệnh khẩn cấp do y tự làm ra, trong đó có viết rằng y có quyền trưng dụng bất kỳ đơn vị quân đội nào để điều động đi làm nhiệm vụ đặc biệt.

Nhóm lính này tin là thật và nghe lệnh chỉ huy của Voigt tiến về thành phố Köpenick bằng đường sắt. Khi đến Köpenick, y cấp cho mỗi người một khoản tiền nho nhỏ để động viên rồi ra lệnh đánh chiến Tòa thị chính của thành phố (khi đó Köpenick là một thành phố trự trị). Do bất ngờ, Voigt và nhóm lính của mình nhanh chóng giành được kiềm quyển soát cơ quan đầu não của thành phố. Y liền ra lệnh bắt giam Thị trưởng thành phố, trưởng phòng thu ngân, phong tỏa các tuyến đường ra vào thành phố và hệ thông tin liên lạc với Berlin. Tiếp đó y ra lệnh trưng dụng toàn bộ các khoản tiền của thành phố với tổng giá trị lên đến 4.000 mác.

Sau khi ôm trọn số tiền đã cướp được trong tay, Voigt tiếp trục ra lệnh cho lính của mình giữ nguyên vị trí trong vòng 1 tiếng rưỡi, còn y thì chạy ra ga tàu hỏa rồi chốn mất tăm.

Nhưng cuối cùng Voigt cũng bị bắt và bị kết án 4 năm tù giam vì tội tấn công vũ trang và cướp tiền.

Năm 1908, y được thả tự do trước thời hạn theo một chỉ thị đặc biệt của Hoàng đế Đức.

4. Cassie Chadwick (1857-1907) - “Đứa con” ngoài giá thú của Andrew Carnegie

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Cassie Chadwick được coi là một cái tên đình đám, nổi tiếng với những vụ lừa đảo ngân hàng trị giá lên đến hàng triệu USD.

Thị có tên thật là Elizabeth Bigley sinh tại Eastwood, Ontario (Canada). Ngay từ hồi nhỏ Elizabeth đã tham gia vào nhiều hoạt động phạm pháp và bị bắt lần đầu tiên khi mới 22 tuổi vì tội làm giả séc ngân hàng. Nhưng sau đó ít lâu, thị được phóng thích do giả bị mắc bệnh thần kinh.

Năm 1882, Elizabeth kết hôn với Wallace Springsteen. Tuy nhiên, chỉ 11 ngày sau khi kết hôn, người này đã bỏ Elizabeth khi phát hiện ra quá khứ đen tối của thị.

Năm 1886, thị trở thành thầy bói với cái tên Lydia Scott, nhưng sau đó 1 năm lại chuyển thành Madame Lydia DeVere để thêm phần huyền bí.

Năm 1889, Elizabeth lại tiếp tục làm séc giả, bị bắt và bị tuyên án 9 năm rưỡi tù giam ở nhà tù Toledo, Ohio. Chỉ 4 năm sau thị được tha bỏng và trở lại Cleveland với tên là "Mrs. Hoover" rồi mở một nhà chứa ở ngoại ô thành phố.

Năm 1897, thị kết hôn với Leroy Chadwick, một người không hay biết chút nào về quá khứ của thị mà chỉ bị vẻ đẹp cuốn hút làm mờ mắt. Năm 1900, khi nước Mỹ mở cuộc điều tra dân số, thị liền thay đổi lý lịch và trở thành con người mới với cái tên Cassie Chadwick sinh ngày 3/2/1862 ở Pennsylvania.

Ngay sau khi kết hôn với Leroy Chadwick, Cassie bắt tay vào vụ lừa đảo lớn nhất và thành công nhất của mình bằng cách tự nhận mình là con ngoài giá thú của Andrew Carnegie, một thương nhân nổi tiếng - người có công thành lập ra người có công thành lập nên tập đoàn Carnegie New York, tổ chức Carnegie vì Hòa bình, trường đại học Carnegie Mellon ở Pittsburgh.

Trong suốt 8 năm liền, bằng nhiều thủ đoạn, nhất là dưới bình phong chắc chắn như vậy, thị đã thực hiện nhiều khoản vay ngân hàng với tổng trị giá lên đến 20 triệu USD.

Ngày 2/11/1904, vụ lừa đảo của thị phát giác khi Ngân hàng H. B. Newton, chi nhánh Boston đệ đơn kiện. Cassie bị bắt ngay tại căn hộ của mình ở khách sạn Breslin lúc đó thị còn đeo một chiếc thắt lưng trong đó chứa 100.000 USD. Tại thời điểm bị bắt, tổng các khoản nợ của Cassie lên đến gần 5 triệu USD.

Ngày 10/3/1905, một tòa án ở Cleveland tuyên án Cassie Chadwick 14 năm tù giam và phạt 70.000 USD vì tội lừa đảo.

Anh Nguyễn

Tổng hợp

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2008

Thân mẫu của bạo chúa Neron uổng sức phò con


4:00, 26/11/2008



Kể từ khi trở thành vợ của hoàng đế Claude, Agrippine thường có thói quen tới giữa trưa lại ra cổng hoàng cung Palatin nhìn xuống Thành phố vĩnh cửu Rome. Lúc đó, ánh nắng không chiếu thẳng vào mắt làm chói nữa nên có thể thanh thản ngắm nhìn những đền thờ đá hoa cương trắng toát ở gần và đặc biệt, có thể nhìn thật rõ tòa nhà Viện Nguyên lão trên đồi Capitol...

Đối với Agrippine, Viện Nguyên lão có một sức hấp dẫn đặc biệt. Đó là nơi mà hàng ngày các vị nguyên lão dưới sự chủ trì của hoàng đế bàn bạc chính sự và quyết định những việc trọng đại đối với đời sống của nước cộng hòa La Mã. Và cũng ở đó, không ít vị nguyên lão coi công quỹ quốc gia như kho tiền riêng của nhà mình lợi dụng cương vị đang giữ lo toan luôn cả những điều tư lợi.

Đó cũng là nơi mà Agrippine chưa một lần được đặt chân tới dù đức phu quân của nàng không bao giờ cho thông qua bất cứ một quyết định quan trọng nào nếu không nhận được sự đồng tình của hoàng hậu.

Mỗi khi nghe vợ xin được dẫu chỉ một lần ngồi gần chồng trong Viện Nguyên lão thì hoàng đế Claude đều hoặc là ào vào hôn tới tấp lên tay, lên mặt hoàng hậu, hoặc giả tảng như không nghe thấy gì... Ông sợ các nguyên lão trách cứ mình vi phạm quy định đã được thông qua sau vụ ám sát hoàng đế César, cấm không được để bất kỳ ai ngồi gần hoàng đế trong thời gian họp Viện Nguyên lão.

Nhưng rồi đây, ngồi ở đó không còn là hoàng đế già nua Claude nữa - Agrippine đã vừa làm lễ mai táng ông ta rồi, rất xa hoa nhưng không hề tiếc nuối. Giờ đứa con trai 17 tuổi của nàng, Néron, sẽ được ngồi trên ngai vàng đó. Chắc từ nay nàng sẽ được ngồi gần hoàng đế trong các phiên họp Viện Nguyên lão - ai dám ngăn cản mẫu hậu của Néron!

Nhưng tại sao từ hôm cấm quân bày tỏ nguyện vọng bầu Néron lên làm hoàng đế, con trai nàng lại không một lần về Palatin cùng nàng? Nó chỉ cho người về báo tin lại rằng, trước khi được bầu lên làm hoàng đế, nó cần cùng thầy Senèque xác định những nhiệm vụ chính cho triều đại mới.

Thế nhưng, những thuộc hạ thân tín lại báo cho nàng biết rằng, thực ra, Néron đang rượu chè be bét với đám bạn hữu cùng các mỹ nữ làng chơi. Cũng có tin đồn rằng (Agrippine rất không muốn tin vào chuyện này), Néron không chỉ mê mỹ nữ mà cả mỹ nam...

Chỉ bốn ngày sau Néron mới xuất hiện tại Palatin, mặt mày phờ phạc, đôi mắt quầng thâm. Lúc đó, Agrippine đang ngủ. Đám tì nữ van nài Néron đừng làm kinh động giấc ngủ của mẹ nhưng chàng ta nóng nảy gạt tất cả ra và xô cửa vào phòng ngủ của Agrippine:

- Mẫu hậu! - Néron ngồi xuống cạnh long sàng của mẹ. - Hôm nay là một ngày đặc biệt đối với con: con sẽ phải thuyết phục những gã ba hoa trên đồi Capitol về việc con là người có thể gánh tốt nhất trọng trách của một hoàng đế La Mã!

- Đó chính là việc mà vì nó, ta đã mỏi mắt mong con suốt mấy ngày nay! - Agrippine thốt lên với vẻ ngái ngủ và trách móc. Con hãy nói với họ rằng con sẽ trị vì như cụ tổ nhà ta, đại đế Auguste anh minh, rộng lượng nhưng cứng rắn!

- Thề có Thần Mộc Tinh, mọi sự sẽ đúng là như thế, thưa mẫu hậu! - Néron đáp luôn không cần suy nghĩ.

- Con hãy nói với họ rằng, con sẽ cho triệu hồi các đạo quân đang hành binh xa về để cho vợ gặp lại chồng, con cái gặp lại cha!

- Mặc cho Thần Chiến tranh Hỏa Tinh giận dữ với con nhưng chắc chắn con sẽ làm việc này đầu tiên!

- Con hãy nói rằng, khác với những hoàng đế cựu triều, con sẽ không tha thứ cho những trò hao phí của công, gian lận, xa hoa, đồi trụy...

- Mẫu hậu, mẫu hậu quả thực quá anh minh!...

Cuộc họp trên đồi Capitol đã diễn ra rất lâu rồi nhưng vẫn không có tin gì được truyền đi từ đó. Có lẽ việc bầu vị hoàng đế mới không quá suôn sẻ. Tuy thế nhưng Agrippine, suốt cả buổi ngồi cạnh cái bàn chất đầy rượu vang và sơn hào hải vị vẫn tỏ ra bình thản.

Có gì phải lo nếu như trong Viện Nguyên lão có cả một nhóm những danh nhân do nhà triết học Senèque rất mực trung thành với nàng đứng đầu. Nếu có sự gì thì nàng còn cả lực lượng vũ trang hùng mạnh do Burros, cũng rất trung thành với nàng, chỉ huy...

Và cuối cùng, việc cần tới đã tới: từ phía đồi Capitol vang lên những tiếng reo hò chúc mừng tân vương. Mặt mày rạng rỡ, trẻ trung, lôi cuốn trong nắng quái chiều hôm, Néron bước ra cửa toà nhà Viện Nguyên lão, một tay giơ lên cây trượng biểu tượng của quyền lực tối cao, một tay theo tục lệ tung ra những đồng xu bạc cho đám đông các công dân thành Rome đang tụ tập phía trước.

- Cảm ơn thần thánh! Cảm ơn thần thánh! - Agrippine thốt lên trước ân huệ mà trời đất đã dành cho con trai nàng, ân huệ mà nàng đã sẵn sàng chịu đựng mọi tai ương và trớ trêu để chờ đợi...

Mới ở tuổi 13, nhan sắc chim sa cá lặn, Agrippine, con gái yêu của danh tướng Germanicus, hậu duệ của vị hoàng đế huyền thoại Auguste, đã bị gả cho một viên tướng viễn chinh Cneius Domitius Ahenobarbus, nhiều hơn nàng cả ba chục tuổi. Nát rượu, đa dâm, ngay từ ngày đầu tiên của cuộc hôn nhân này, Ahenobarbus đã bày trò chim chuột với đủ mọi loại gái.

Khi Agrippine sinh hạ Néron, Ahenobarbus trong cơn say đã bô bô nói với mọi người: "Từ tôi và Agrippine không thể sinh ra thứ gì khác ngoài tai họa thương đau đối với nhân quần". Ahenobarbus đã bị đột tử sớm vì rượu, thật may cho Agrippine.

Thế nhưng, mỹ nhân đệ nhất thành Rome này vẫn không được yên mà lại bị chính người anh ruột của mình, Caliglula, để mắt tới và buộc phải trở thành tình nhân. Sau khi Caliglula bị sát hại trong một cuộc đảo chính cung đình, Agrippine đã phải một mình nuôi nấng Néron, dồn cho đứa con trai trọn vẹn tình yêu của mình.

Tương truyền, có một thầy bói khi xem cho cậu bé Néron đã tiên đoán rằng, Néron sẽ trở thành hoàng đế nhưng sẽ sát hại mẹ. Nghe vậy, Agrippine thốt lên, nếu thật thế thì cũng cam lòng!

Số phận tới đó vẫn chưa buông tha Agrippine. Hoàng đế Claude, lên thay Caliglula trị vì La Mã, đã sai hạ sát người vợ thứ ba là Valeria Messalina vì tội trụy lạc. Vừa chôn xong xác vợ, Claude đã sai người tới hỏi Agrippine làm vợ.

Ông ta không hề cảm thấy cấn cá gì về việc mình hơn Agrippine cả bốn chục tuổi mà chỉ có chút băn khoăn vì ông ta là chú ruột của nàng. Luật hôn nhân của La Mã cấm những người họ hàng gần lấy nhau. Tuy nhiên, Viện Nguyên lão giỏi nịnh bợ đã thông qua một quyết định đặc biệt cho phép hoàng đế Claude cưới Agrippine làm vợ.

Agrippine có yêu Claude chút nào không? Không! Thậm chí trong lòng nàng còn rất khinh ghét ông ta, nhưng hiểu rõ bản tính thâm hiểm của Claude, nàng đã cố sức chịu đựng người chồng quái nhân này. Hai người không có con chung. Claude cho rằng, với hai người con Claudia Octavia và Tiberius Claudius Caesar Britannicus mà ông ta đã có với Valeria Messalina đã là quá đủ rồi.

Ông ta đã định đưa cậu con trai út Britannicus lên nối nghiệp. Tuy nhiên, Agrippine lại nghĩ khác. Dần dà, từng bước một, nàng lấn sân gia đình chồng và tạo thế cho con trai mình để thêm cơ hội giành lấy ngôi hoàng đế sau này. Thoạt đầu, Agrippine xin chồng nhận Néron làm con nuôi. Khi Néron đến tuổi trưởng thành, Agrippine thuyết phục Claude rằng, sẽ là phúc lộc chung của gia tộc nếu Néron cưới Octavia làm vợ.

Với tư cách phò mã, Néron mặc nhiên trở thành nhân vật thứ hai sau Britannicus có quyền thừa kế ngai vàng. Và sau khi Claude chết do ăn đĩa nấm vợ mang tới, Agrippine đã có đủ mưu mẹo để tước bỏ của Britannicus trở thành hoàng đế La Mã, nhường chỗ cho Néron...

Rời khỏi đồi Capitol, Néron trở về hoàng cung Palatin với tư cách chủ nhân ông toàn phần - với cả bầu đoàn thê tử cấm quân sẵn sàng giết bất cứ ai lại gần hoàng đế dưới ba bước. Gặp mẹ, Néron reo lên:

- Mẫu hậu, hãy chúc mừng con đi! Con đã là hoàng đế! - Và ngừng một chút, Néron làu bàu. - Và có nghĩa là, từ nay, muốn gì là Trẫm sẽ làm nấy!

Lúc đó mặt trời đã xuống rất thấp. Trên thành Rome bỗng nổi lên cơn giông. Sấm chớp lia lịa. ở phía đồi Capitol hiện lên những ảo ảnh đen ngòm đầy ám khí...

- Xin chúc mừng! - Sau một hồi im lặng, Agrippine chậm rãi thốt lên. - Ta đã từng sống với hai vị hoàng đế. Hy vọng, với vị hoàng đế thứ ba mọi chuyện sẽ tốt hơn?

- Có gì mà mẫu hậu hoài nghi? - Néron lắc đầu. - Tốt hơn hết, mẫu hậu hãy rót cho con rượu!

- Con tự rót đi!... - Agrippine chìa cho con cốc và chai. - Thế nào con, Viện Nguyên lão thích bài phát biểu của con chứ?

- Mẹ biết rồi mà, đó là lời của mẹ và của thầy Senèque, con chỉ là người phát ngôn thôi.

- Họ đã nói gì với con?

- Họ nói rằng con chín chắn và nhìn xa trông rộng trước tuổi... Con đã đề nghị Viện Nguyên lão tôn vinh mẹ là mẫu nghi thiên hạ!

- Mẫu nghi thiên hạ? Hay đấy nhỉ. Cảm ơn con!

Néron phẩy tay:

- Thế thì đã là gì hả mẹ! Thế vẫn chưa xứng với những gì mẹ đã làm cho con. Nếu Claude không ăn món nấm đó, chắc gì con đã có thể trở thành hoàng đế La Mã.

- Con nói thế là có ý gì?

- Mẹ ơi, thiên hạ bảo là mẹ bằng món nấm độc đã giúp ông ta về thế giới bên kia sớm hơn hạn định - Néron nhìn như xói vào gương mặt mẹ mình.

Đúng khoảnh khắc đó, chớp loé lên trên đỉnh đền Mộc Tinh. Nhưng Néron đã uổng công khi định tìm thấy trên gương mặt quyến rũ của Agrippine một chút bối rối.

- Thiên hạ cũng nói với ta vô số điều này điều nọ về con, nhưng ta có tin đâu. Còn về chuyện Claude, nếu ta hay ai đó có làm gì đấy với ông ta thì bây giờ bàn tới phỏng có ích gì. Quan trọng là con đã trở thành hoàng đế La Mã. Để trả lại cho người thành Rome niềm tin vào phẩm hạnh của mình, vào việc có thể sống theo lương tâm, không cần chiến tranh và cướp bóc!

Néron nghe mẹ nói với vẻ hững hờ, dường như những lời dặn dò đó chỉ là những âm thanh vô nghĩa lý, đôi mắt xanh ngây dại đi vì rượu.

- Mẫu hậu à, gì thì giờ con cũng là hoàng đế rồi. Chẳng lẽ đó không phải là ước mơ lớn nhất của mẫu hậu?

Néron đã đúng: Agrippine đã nhẫn chịu nhiều khổ ải để mong cho đứa con trai duy nhất của mình đi theo đúng đường ngay lối thẳng. Thông minh, nhạy bén trước tuổi, rất giàu năng khiếu nghệ thuật, Néron lớn lên lại trở thành một cậu bé bướng bỉnh và ngang ngạnh, không thích học những gì mình không thích.

Để khơi dậy lòng hiếu học của con, Agrippine đã mất nhiều công sức để tìm cho Néron những người thầy khả kính nhất. Chính nhờ những nỗ lực của Agrippine mà nhà triết học Senèque mới được trở về Rome từ nơi lưu đày và ông đã trở thành người thầy chính của Néron về các môn khoa học xã hội.

Trong các môn khoa học đó, chỉ triết học là thứ mà Agrippine cho là không cần thiết vì nàng nghĩ rằng, triết học sẽ khiến vị hoàng đế tương lai trở nên hoài nghi về lẽ phải của mình... Agrippine cũng chọn cho con trai danh tướng Burros làm thầy dạy võ công và nghệ thuật quân sự...

Thế nhưng, rõ ràng là cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Néron đã không trở thành một vị hoàng đế hiền minh. Lên ngôi rồi, sau 5 năm đầu tiên phần nào còn biết điều, Néron càng ngày càng làm nhiều điều ác, đến mức hai ông thầy Senèque và Burros cũng phải bỏ đi. Rồi chính y đã bày mưu để sát hại mẹ mình... Rốt cuộc, bạo chúa cũng đã phải kết thúc đời mình một cách oan nghiệt


Vũ Hoài Phương