| Thứ sáu, 6/3/2009, 07:00 GMT+7 | ||||||
| Một trong những nỗi buồn của Chánh quan Lang Quách Vị là Quách Hàm - con trai cả của ông làm quan Tri châu Lạc Sơn lại lấy em gái nuôi làm vợ thứ Tư… | ||||||
| Chuyện là, trong dinh Tuần phủ có một gia đình phu bếp, chồng là người Hoa tên là Hà Quốc Trung, vợ là người Việt. Do nghiện thuốc phiện nên người đàn ông này phải bán dần con mình đi để lấy tiền mua thuốc phiện hút. Trong số những người con của họ, ông Quách Vị lúc còn là quan Án sát rất quý một cô tên là Hà Thị Tẻo, sinh năm 1917. Ông Quách Vị bỏ ra một số tiền mua cô bé chưa đầy mười tuổi về làm con và đổi họ thành Quách Thị Tẻo. Quách Thị Tẻo như thể sinh ra để trở thành hoa hậu sứ Mường. Khuôn mặt đẹp, nước da trắng, tư chất thông minh hơn người của cô con gái mang dòng máu lai Hoa – Việt. Đã thế Tẻo lại được bố nuôi là quan Án sát, rồi quan Tuần phủ chăm bẵm, được học hành và giao tiếp với con cái các quan Tây nên chẳng mấy chốc, cô đã trở thành người con gái xinh đẹp và thời thượng. Bằng với vẻ đẹp trời cho ấy, Quách Thị Tẻo được rất nhiều công tử con quan, con lang và công chức phong lưu để ý, nhưng cô chưa để lọt mắt xanh một ai. Một dạo, ông Quách Vị thấy con trai trưởng Quách Hàm đang làm việc tại Tri châu Lạc Sơn năng ra tỉnh ngay cả khi không phải công cán. Thì ra Quách Hàm si mê người em gái nuôi từ lúc nào không biết nữa. Vốn tư chất thông minh lại hào hoa, phong nhã, lang cả Quách Hàm đã từng bước chinh phục cô em gái nuôi nổi tiếng xinh đẹp. Biết được cơ sự này, người cha phản ứng gay gắt, cấm không cho họ quan hệ với nhau.
Thế nhưng, dù là Quan Tuần phủ, Chánh quan Lang, cha đẻ của con trai, cha nuôi của con gái, Quách Vị cũng không thể ngăn cản được tình yêu của họ. Năm 1932, khi Quách Thị Tẻo vào tuổi 16, cô đẹp một cách ngơ ngác và đầy quyến rũ. Có người nói: Nàng Tẻo mà ra tắm suối thì bờ đá cũng phải nở đầy hoa! Cũng năm đó, người cha nuôi Quách Vị đã đưa Tẻo cùng đi vào Triều đình Huế yết kiến vua Bảo Đại. Thời phong kiến, được dâng lên vua một người con gái đẹp là được nhận một ân sủng, cho dù người con gái ấy là vợ hay là con đẻ của mình. Sau này người ta đồn rằng, chính vì sự kiện ấy mà Chánh quan Lang tỉnh Mường Hòa Bình Quách Vị được vua Bảo Đại ban thưởng áo thụng và mũ cánh chuồn. Vua Bảo Đại còn nói vui, đại ý vua ban cho mũ cánh chuồn là để thay cho đôi tai thật mà ông ấy không có. Những ngày Tẻo kinh lý vào Triều đình Huế cùng bốnuôi, ở nhà Quách Hàm lòng như lửa đốt. Bổn phận của một quan châu nhiều khi xao nhãng. Quách Hàm mong ngày, mong đêm nàng Tẻo sớm trở về. Thế rồi vào năm 1933, vừa 17 tuổi, Quách Thị Tẻo đăng quang Hoa hậu sứ Mường. Các báo Đông Pháp đồng loạt đăng tin và ảnh về sự kiện này. Và, cũng chính thế, Quách Hàm càng thúc tiến nhanh việc lấy Hoa hậu sứ Mường làm vợ. Phải công nhận sức chinh phục của Quách Hàm là ghê gớm. Dù ông đã có tới 3 người vợ, lại hơn kém nhau 14 tuổi, nhưng Hoa hậu sứ Mường Quách Thị Tẻo đã vượt qua mọi rào cản để đến với quan châu Quách Hàm. Lúc đầu họ đi chơi với nhau mỗi dịp Quách Hàm lên tỉnh. Sau thì nàng Tẻo theo Quách Hàm về châu Lạc Sơn. Và họ đã quan hệ với nhau như vợ chồng. Năm 1936, vào tuổi 19, Hoa hậu sứ Mường Quách Thị Tèo chính thức làm vợ thứ Tư của quan Châu Lạc Sơn Quách Hàm. Lại có một chuyện buồn nhưng đáng để suy ngẫm về duyên phận hay định mệnh như sau: Quách Hàm có một người em trai là lang Quách Lu. Người lang em này ngỗ ngược, chuyên mặc đồ Tây và ăn chơi sành điệu. Riêng vợ, Quách Lu đã có tới 17 người (sẽ có dịp trở lại với con người này). Mỗi lần từ tri châu về, Quách Hàm thường lấy thế làm anh để bảo ban Quách Lu, nhưng đâu lại vào đấy. Năm 1937, trong một lần hai bên to tiếng, Quách Lu đã cầm súng đuổi bắn Quách Hàm. Vì bất ngờ, lang anh Quách Hàm chỉ còn biết bỏ chạy về nhà. Ở đằng sau, Quách Lu đã đuổi rất gần. Do khuất một lùm cây, Quách Lu không nhìn rõ Quách Hàm. Vừa chạy vào đến sân, thấy vợ mình là Quách Thị Tẻo bụng chửa to, mặc váy dài, rộng, không ngần ngại, Quách Hàm đã chui vào váy vợ mà ẩn nấp. Ngay sau đó Quách Lu, súng lăm lăm trong tay đuổi tới và chạy thẳng lên nhà sàn tìm bắn Quách Hàm. Lợi dụng khi Quách Lu đang tìm mình trên nhà sàn, Quách Hàm đã thoát ra ngoài an toàn.
Cũng lại về chuyện Quách Hàm quyết lấy em nuôi làm vợ dẫn tới việc người cha Quách Vị rất giận. Kể từ khi Quách Vị bị Công sứ Moólơva xúc phạm, từ quan bỏ về ở Đồi Thung, cho đến khi bị ốm nặng cho người khiêng về Chiềng Vang, ông cũng không nói chuyện với con trai cả Quách Hàm. Ngay cả những ngày cuối cùng sắp từ biệt trần gian, con cái, người thân về phục thuốc đầy nhà, Quách Hàm đưa nàng Tẻo và hai con về, Quách Vị cũng chỉ nói chuyện với Quách Thị Tẻo như nói với con gái nuôi ngày xưa. Còn đối với Quách Hàm, ông vẫn giận vì là một quan lang mà đã phá luật lệ nhà Lang, cả gan lấy em gái nuôi làm vợ. Việc tày đình ấy làm muối mặt ông và dòng dõi lang nhà ông. Nhất là, ông – một Chánh quan lang vừa nghỉ hưu. Vì thế, cho đến lúc chết, người cha Quách Vị vẫn không tha thứ cho con trai cả Quách Hàm. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ban Cán sự tỉnh Hòa Bình cử ông Quách Hàm làm cố vấn. Đến năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông Quách Hàm được cử làm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Hòa Bình. Năm 1954, hòa bình lập lại, ông Quách Hàm nghỉ hưu về quê nhà Mường Vang. Năm 1956, ông bị bệnh rồi mất. Phần mộ của ông hiện ở nghĩa trang dòng họ Đống Rổng làng Chiềng Vang xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn. Từ một quan Tri Châu, Ông Quách Hàm đã đi theo cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược, làm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến, ông đã có công lãnh đạo và vận động thế lực lang đạo và dân chúng ủng hộ cách mạng. Chính nhờ vào đóng góp đó, ông được Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi. Ngày nay, hậu duệ dòng họ Quách ở Chiềng Vang sống hòa đồng cùng bà con dân bản. Nhà Cái của họ bây giờ là một ngôi nhà sàn nhỏ do anh Quách Công Phiếm sinh 1963 – chắt đích tôn cụ Quách Vị, cháu đích tôn ông Quách Hàm đang ở và lo thờ tự. Được đọc sách, được nghe người già kể về đời sống, sinh hoạt của tầng lớp lang đạo người Mường đã nhiều. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến những tấm ảnh gốc về họ Quách mà anh Quách Công Phiếm, cho xem. Theo anh Phiếm, nếu tôi dùng để in báo, thì đây là lần đầu tiên, những bức ảnh này được công bố. Câu chuyện về gia đình quan Lang ấy đến với tôi như một thiên truyện ngắn với đầy tình tiết mâu thuẫn vậy. Lê Va |
Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2009
Quan Tri châu Lạc Sơn và Hoa hậu xứ Mường
Một đám ma tốn trăm trâu ngàn gà
| Thứ ba, 3/3/2009, 07:00 GMT+7 | |||||||
| Chưa hết 15 ngày mo, Ậu cả nhẩm tính đã thịt trên 100 con trâu, 150 con lợn và hàng ngàn con gà để cúng tiễn đưa lang Đá – Quách Vị về mường Ma. Ngày đưa tang, huyệt mộ Lang Đá táng trên đồi cao mà trên quan tài để một bát nước đầy. Trong suốt quãng đường gập ghềnh vượt suối, băng đồi, bát nước ấy không sóng sánh ra ngoài một giọt… | |||||||
| Sau hơn 30 năm, từ lúc hai mươi tuổi cho đến khi ngoài năm mươi, từ quan Thông sự Tri châu, phó Tri châu, Tri châu, quan Án sát rồi liên tiếp hai khóa làm Chánh quan Lang – Tuần phủ tỉnh Hòa Bình, nay từ quan về lại quê nhà Mường Vang, Quách Vị rất buồn. Ông không ở trung tâm Chiềng Vang mà bỏ lên làng Pol thuộc Đồi Thung, nơi núi rừng có độ cao trên ngàn mét so với mực nước biển để sống những ngày cuối đời. Tại đây còn lại một nhà khách, ông cho xây cất để thỉnh thoảng vợ chồng Công sứ Tuyxtơ lên nghỉ ngơi, săn bắn và tắm nước khoáng nóng. Hàng ngày cô đơn thẩn thơ trong rừng, trước mây vờn, gió giỡn, ông lại chợt nhớ đến những năm tháng quan trường với bao niềm vui và cũng không ít nỗi buồn. Nhớ nhất là hành trình vào Huế yết kiến vua Bảo Đại. Trên quãng đường dài thế, đến đâu ông cũng được Tuần phủ các tỉnh đón tiếp long trọng nào ngựa, nào xe. Thế mà bây giờ, muốn đi đâu lại phải có người khiêng võng không khác gì người ốm. Càng buồn, Quách Vị càng xa lánh người thân. Ông không muốn cho ai lên thăm. Hàng ngày, chỉ vài thuộc hạ phục dịch. Sau gần chục năm ở ẩn trong rừng, vào cuối năm 1943, Lang Đá – Quách Vị thấy đã yếu lắm rồi, ông mới chịu cho phu phen khiêng về nhà cái ở làng cũ Chiềng Vang. Tuy không còn là Chánh quan lang nhưng Quách Vị vẫn là Lang Đá – lang ông với vị thế được đặc biệt tôn kính. Mặt khác, con trai cả của ông là Quách Hàm đang là Quan Tri châu Lạc Sơn nên không những thần dân mà hàng ngũ nhà lang các họ, các miền tới thăm ông tấp nập. Vào cuối mùa đông năm 1943, ông qua đời ở tuổi 60. Thế là một con người không có hai vành tai, hai lần làm Chánh quan lang sứ Mường Hòa Bình, sinh năm Quý Mùi, lại từ giã cõi đời vào đúng năm Quý Mùi, vừa tròn một Hoa giáp. Người già ở Chiềng Vang kể: Vào một buổi sáng sớm cuối đông năm 1943, trời rét như cắt da, cắt thịt. Khi bản làng còn chìm trong sương mù thì bỗng nổi lên 3 hồi trống đồng làm rung chuyển cả núi rừng báo tin Lang Đá đã về mường Ma. Sau đó, các Ậu lam – người giúp việc Lang mới cầm chiêng chót gõ từng hồi đi báo tin cho rõ đến các mường: - Chiềng Mường, Chiềng xóm. Đêm qua Lang Đá mường ta đã về mường Ma. Hỡi người các mường ơi! Hỡi bố mế, phà khà ơi! Lang Đá ta mất rồi! Bóng, bóng, bóng…cứ thế, cái tin lang Đá về mường Ma được loan rộng. Và cứ thế, người người từ trong nhà chạy ra ngoài sân, hướng về phía nhà Lang Đá mà khóc lóc, kể lể như chính cha mình chết. Rồi không ai bảo ai, họ thay quần áo, váy trắng, bỏ tóc xõa để đến nhà tang chủ mong được nhìn mặt vị Lang Đá của mình lần cuối lìa. Tại gian chính giữa nhà Cái, một chiếc màn trắng buông chùm sập gụ chân quỳ khảm trai long, ly, quy, phượng. Hai cánh màn được mở rộng, Lang Đá mặc áo gấm đỏ, đầu đội mũ cánh chuồn là những phẩm vật vua Bảo Đại ban. Từ trong màn thoảng ra một mùi đặc biệt của hoa lá thơm của núi rừng. Từng đoàn người đi dọc theo dãy đồ đồng đặt trên sàn nhà mà đến quỳ lạy trước thi thể người quá cố. Ở dưới sân, người ta vừa khiêng một chiếc trống đồng rất to từ trong khu rừng mộ về, tượng trưng cho sự linh thiêng của linh hồn Lang Đá. Chiếc trống này được mang lên nhà và phủ nhiễu đỏ. Hương nến được đốt lên để ông Mo cúng thần trống. Sau đó là bắt đầu 15 ngày đêm liên tiếp mo cho Lang Đá lên mường Trời.
Thời gian mo rất dài, mo liên tục không nghỉ, nên tất cả những ông mo giỏi trong vùng được triệu đến. Họ thay nhau đọc thuộc lòng những bài mo dài dằng dặc được truyền miệng từ ngàn xưa. Quan lang các vùng cùng tùy tùng vài chục người mỗi đoàn, dắt trâu, gánh xôi, gạo, rượu, thịt đến phúng viếng Chánh quan lang Quách Vị: -Thương ôi! Quan Chánh Lang của trăm đất, trăm miền đã về chầu phật, chầu tiên. Người mường chúng tôi lòng đau dạ xót. Hôm nay đến đây lạy người! Ô hô, thương ôi! Quan Tri châu Quách Hàm là con trai trưởng đón lời: …Đầu cha tôi quay về hướng Đông Bắc, nhìn ra tỉnh lỵ Hòa Bình. Sau 15 ngày đêm nghe mo kể nhòm mường lúc cuối lìa, nghe mo kể Đẻ đất, đẻ nước, nghe chuyện Nàng Nga hai mối, nghe cho đủ chuyện, đủ trò, rồi theo ông Mo dẫn lối, Ậu Chí Chuốc gánh đồ về mường Ma đống Rổng phía Tây Bắc, đồi mường Chiềng ta đây. Lang cả Quách Hàm rứt lời, các lang em cùng con cháu đồng thanh khóc lóc và lăn vào áo quan trong tiếng trống, kèn của 12 phường bát âm tấu lên các khúc xinh tiền, lưu thủy, hành vân… âm vang cả cánh đồng Chiềng Vang rồi vọng vào vách núi. Cứ thế cho đến đêm thứ 15, là đêm mo cuối lìa – đêm mo cuối cùng con dân các mường còn được ở gần lang Đá của họ. Họ thức cả đêm chờ đến sáng hôm sau. Đêm ấy, hàng trăm ngọn nến được thắp lên, mấy chục ngọn đèn dầu lạc được đốt sáng. Trong ánh sáng bập bùng, hàng ngàn người, tóc xõa, khăn trắng thắt ngang đầu với nét mặt buồn rười rượi ngồi kín sàn, đặc sân, ngõ chờ thời khắc đưa lang Đá về mường Ma. Khoảng 7 giờ sáng hôm sau, một hồi “ chiêng vàng, chiêng bạc” tấu lên cùng tiếng trống đồng trầm hùng rung động núi rừng, báo hiệu đã đến giờ đưa lang Đá về nơi an nghỉ cuối cùng. Một ông mo chính mặc áo dài đen, đầu đội mũ vuông bằng da hổ, tay cầm kiếm dài, cùng 6 ông mo phụ ngồi một bên gần quan tài, đối diện với bên kia là thân thích của người đã chết. Ông mo chính bắt đầu hâm mo để các mo phụ đứng lên, tang gia thôi khóc để nghe mo: -Bố Đá đi cam thương, cam khốn, cam khốn lại cam sầu, cam rầu rầu nước mắt chảy ra…
Giọng ông mo lên bổng, xuống trầm sao mà ai oán. Rứt lời, các bà vợ, con dâu, cháu chắt lại rộ lên tiếng khóc lâm ly, thảm thiết. Cả ngàn người có mặt cùng nghe các ông mo thay nhau kể đoạn cuối “ Cơi tếch, cơi lia” (cõi đứt, cõi lìa). Các con cháu để tang cho đủ 3 năm, 6 tháng, mặc áo trái hết hạn mới thôi… Nay là ngày tận, việc đêm, mo đã hết. Ông Mo dứt lời, tiếng trống đồng khùng khùng chậm chạp nổi lên, tấu với cồng chiêng bong bong, bi bi cho đủ 3 hồi, chín tiếng. Rồi cả ngàn người từ các lang đạo cho đến thứ dân, từ trên nhà sàn xuống đến sân, ra đến ngõ xếp thành hàng chuyền tay nâng quan tài Lang Đá. Cùng lúc tiếng khóc của ngàn người cất lên náo động cả núi rừng. Mười hai người đội vải căng ra làm cầu. 24 thanh niên trai tráng đều buộc dây chuối ở thắt lưng, nghe theo hiệu lệnh mà đứng thứ tự theo vị trí đã được xếp, mắt không rời bát nước đầy đặt trên đòn khiêng mà chuẩn bị cất bước. Dọc hai bên đường từ nhà đến nơi mộ huyệt là rất nhiều cây lêu và cờ, phướn bay phấp phới. Đến chân đồi nơi đặt nghĩa địa, chiêng chót phát lệnh đặt áo quan xuống và ông mo làm thủ tục cuối lìa. Con cháu đi quanh áo quan 3 vòng theo 3 hồi chiêng. Sau đó chiêng lệnh hồi Một thì đội phu đặt tay vào quan tài, hồi Hai thì nâng lên vai, hồi Ba thì bước lên đồi. Đến lúc này, bát nước đầy đặt trên áo nắp quan tài vẫn không sánh ra ngoài một giọt cho đến nơi hạ huyệt tại đống Rổng mường Vang. Những hòn đá (hòn khụ) cao to bằng người thật được đục đẽo cẩn thận, chạm rồng mây, khắc chữ Nho và khênh lên từ hôm trước được dựng thành hàng rào quanh phần mộ lang Đá. Lúc này chính ngọ ngày 18 tháng 12 năm 1943. Cuộc đời của vị chánh quan Lang không tai khép lại. Mọi việc diễn ra rồi cũng chìm vào yên lặng của núi rừng tây Bắc. Đứng trước cảnh sắc mường Vang, ngẫm về cái được và không được, người viết bài thầm mong thế hệ con cháu các quan lang xưa gìn giữ, phát huy những mặt tích cực để hình ảnh đẹp của dòng quan Lang không lùi sâu vào trong sử sách. Lê Va |
Chuyện về Chánh quan Lang không tai
| Thứ hai, 2/3/2009, 07:00 GMT+7 | ||||||
| Năm 1932, khi được vua Bảo Đại vời vào kinh đô Huế yết kiến, Chánh quan Lang tỉnh Mường Hòa Bình Quách Vị đã đưa người con gái nuôi xinh đẹp cùng đi. Trong lần ấy, Quách Vị được vua ban cho một bộ cẩm bào và mũ cánh chuồn thay cho đôi tai thật mà Quách Vị không có. | ||||||
| Bốn bề rừng rậm núi nguy nga Nước hát chim ca cảnh thái hòa Man mác trời mây bày trăm vẻ Dập dìu hoa lá thác ngân nga Trời xanh cũng khéo tựa chiều ta Bốn bề non nước ấy cảnh nhà Hòa cùng trời đất đưa hương sắc Bông thơm trái ngọt nở muôn hoa Về Mường Vang hôm nay, chưa chắc bạn đã hình dung ra sự trù phú khi xưa của nó. Nhưng tiếp xúc với gia đình quan lang cũ ở đây, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên về uy quyền và sự thịnh vượng của Lang Cun Mường. Khi xưa, cai quản vùng đất trù phú, nên thơ này là dòng lang họ Quách mà dinh thự đặt tại trung tâm xã Tân Lập để thay nhau ăn lang ở vùng Chiềng Vang. Không biết là đời thứ bao nhiêu, nhưng vào một ngày lành, tháng tốt, mưa thuận, gió hòa của năm 1883, bà Chu – vợ lang Cun (Lang to) Quách Tiết sinh ra người con trai và đặt tên là Quách Vị. Quách Vị ngay từ lúc ra đời đã có khuôn mặt rất đẹp nhưng lại không có cả hai vành tai. Càng lớn, Quách Vị càng khôi ngô, thông minh và cao lớn hơn người. Sinh ra và lớn lên trong gia đình dòng dõi quan lang, Quách Vị được nuôi dưỡng chu đáo và được ăn học cẩn thận. Xác định bổn phận sau này thay cha làm Lang Cả cai quản thần dân nên Quách Vị càng cố gắng học tập và rèn luyện, tiếp cận vị thế tương lai của mình. Năm 1903, khi mới 20 tuổi, Quách Vị được bổ làm Thông sự Tri Châu Lạc Sơn nên càng có điều kiện, giao lưu, tiếp kiến với người Pháp và các quan lang trong vùng. Với những cố gắng của mình, 5 năm sau, mới 25 tuổi, Quách Vị được thăng làm Phó Tri châu, rồi Tri châu Lạc Sơn. Đêm mồng 2, rạng sáng mồng 3/8/1909, từ hang Can (thuộc xã Độc Lập ngày nay), Tổng Kiêm và Đốc Bang dấy quân khởi nghĩa đánh chiếm tỉnh lỵ Hòa Bình. Sau khi đánh vào tỉnh lỵ, tiêu diệt được một số quan, quân Pháp, thu được không ít vũ khí và lương thực, nghĩa quân theo sông Đà rút về đồn trú ở vùng núi Viêm Nam để phục binh đánh Pháp lâu dài. Trước tình hình trên, Quách Vị được lệnh mang quân Sơn dõng của Châu Lạc Sơn ra bảo vệ tỉnh lỵ và truy kích quân khởi nghĩa. Mãi tới cuối năm 1910, do lực lượng không cân sức, quân khởi nghĩa thất bại, lãnh tụ của họ bị bắt và đày ra Côn Đảo, chấm dứt cuộc khởi nghĩa yêu nước của Tổng Kiêm, Đốc Bang.
Do chiến công này, Quách Vị được người Pháp chú ý nhưng còn phụ thuộc vào Hội đồng Quan Lang cấp tỉnh, nên ông tiếp tục về làm Quan Tri châu Lạc Sơn. Cho đến 1920, nghĩa là 10 năm sau, khi đã “cứng cáp”, Quách Vị mới được bầu vào Hội đồng Quan lang gồm 12 người. Hội đồng Quan lang lại bầu ra 6 vị từ Chánh quan lang và 5 chức sắc tiếp theo. Trong 6 người ấy, Quách Vị được bầu là quan Án sát. Đến năm 1925, Quách Vị trúng liền 2 khóa làm Chánh Quan Lang tỉnh Mường – tương đương với quan Tuần phủ người Kinh. Ông Quách Vị có bốn người vợ, trong đó có 2 vợ thuộc dòng dõi nhà Lang. Đinh Thị Yên – vợ cả đẻ được con trai Quách Hàm.Vợ hai là Quách Thị Yềm, người Mường Vang lại không biết sinh con; người vợ thứ Ba, thứ Tư là Bùi Thị Mếu và Bùi Thị Bì không thuộc dòng dõi nhà Lang nên phải chịu gọi là “vợ nuôi”. Cả 4 bà vợ đều ở quê nên Quách Vị ở trên tỉnh có một mình. Ngay từ khi còn làm quan Án sát, Quách Vị đã làm giấy nhận một người con gái của vợ chồng người hầu bếp làm con và đổi sang họ Quách. Năm 1932, khi được vua Bảo Đại vời vào kinh đô Huế yết kiến, Chánh quan lang Quách Vị đã đưa người con gái nuôi xinh đẹp cùng đi. Trong lần ấy, Quách Vị được vua ban cho một bộ cẩm bào và mũ cánh chuồn thay cho đôi tai thật mà Quách Vị không có. Sau, người con gái nuôi này chính là hoa hậu sứ Mường vào các năm 1932 - 1933. Và rồi trở thành con dâu ngoài ý muốn của Quách Vị. (sẽ đề cập ở phần sau) Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, ở miền núi Hòa Bình, tuy đã có Hội đồng Quan Lang do Chánh Quan Lang đồng thời là quan Tuần phủ người Mường đứng đầu tỉnh, nhưng toàn quyền lại do Quan Công sứ người Pháp quyết định. Bên cạnh quan Công sứ thì Phó Công sứ cũng là người Pháp. Vào năm 1934, Công sứ Tuyxtơ, hết nhiệm kỳ được triệu về nước, Moóclơva được bổ nhiệm là Công sứ mới cai quản tỉnh Mường Hòa Bình. Trong buổi “Tống cựu, nghinh tân”, thấy Chánh Quan lang Quách Vị thể hiện sự lưu luyến với cựu Công sứ mà không mấy đậm đà với tân Công sứ, nên Moóclơva đã buột miệng mắng ông là “Đồ con lợn”. Đối với người phương Tây, đó không phải là câu nói xúc phạm. Nhưng đối với một Chánh Quan Lang người Mường thì quả là quá xúc phạm. Nhất là đối với người dân tộc Mường, vốn lại không phân biệt mắng, chửi như người Kinh. Nghĩa là nếu đụng chạm đến nhau, đối với họ đều là chửi. Chính thế, Quách Vị nổi đóa và văng tục trước mặt Công sứ Moóclơva: “Tao đút C vào làm nữa”, rồi sai thuộc hạ bốc đồ đạc trở về Mường Vang. Nhìn nhận sự việc trên không phải để thấy vị Lang không tai kia nóng tính, bảo thủ của tính cách bản địa. Con người bộc trực ấy từ chức quan, vào rừng ở cho đến cuối đời. Để rồi thế hệ con cái sau đó có điều kiện tham gia kháng chiến.
Hệ thống Lang đạo bề thế, chặt chẽ từ ngàn xưa được sinh dưỡng, ủ ấp trong miền núi rừng Hòa Bình với những quy tắc bền chặt của “Đất có Lang, làng có phép”. Trong kho tàng dân gian truyền miệng của người Mường còn lưu: Lang từ khởi tổ ngày xưa Cuối Văn Lang quốc bây giờ đã xa Mỗi cành con cháu phong ra Họ chia Đinh, Quách, Bạch, Hà, Xa, Cao Trải nơi rừng rậm đồi cao Rủ đưa thầy tớ tìm vào khai hoang Phá rừng núi mở ruộng nương Chiêu dân lập ấp ruộng đường vào ra Sau này con cháu nhiều ra Đặt nên châu, tổng cùng là xã thôn Dòng Lang thêm nức tiếng đồn Cái danh quý tộc vần còn tiếng sang Trai thời truyền gọi quan lang Gái thời truyền gọi mãng nàng là tên Kim chi ngọc điệp nối truyền Mường trong phục ý, vua trên thuận tình Sử sách có ghi nhận công lao đóng góp của tầng lớp Lang đạo trong việc giữ yên bờ cõi ở những vùng phên giậu của đất nước. Đặc biệt các nhà Lang dòng họ Đinh, Quách, Bạch, Hà của Hòa Bình tuyệt đối trung thành với Nhà Lê. Chính vì thế mà đến thời Gia Long và Minh Mạng đã không mấy cảm tình với các quan Lang người Mường, nên đã có một thời tước dần quyền cai trị tỉnh Mường của các thổ lang bản địa. Nhưng sau thấy không ổn, lại phải phục quyền cho họ. Trong tờ trình số 481 ngày 20/01/1904 của Viện Cơ mật có đoạn: “ Triều đình chưa ban bố một luật lệ nào làm ảnh hưởng đến quyền hành chính hay tư pháp của các quan lang”. Rồi Viện Cơ mật kết luận: “Những vấn đề này, Nhà Vua vẫn để cho các quan lang đưa vào lệ cổ của dân tộc ít người đó”. Xuất phát từ thực tế như trên, Hội đồng Quan lang lại do toàn thể các lang bầu. Và Chánh quan lang lại do Hội đồng quan lang bầu ra. Tiếng nói của họ đặc biệt có uy tín đối với dân chúng người Mường. Vắng Chánh quan lang, công việc hàng tỉnh gặp không ít khó khăn, nên nhiều lần quan Công sứ Moóclơva cho Thông phán cầm thư vào mời Quách Vị trở lại nhiệm sở nhưng ông đã cương quyết từ chối. Từ quan về ở ẩn trong rừng, ông Quách Vị được gia tộc và dân Mường Vang gọi là Lang Đá (Lang Ông). Không ai dám gọi tên thật của ông, vì con trai ông đã làm quan Tri châu rồi. Câu chuyện về gia tộc ông Lang không tai còn tiếp diễn ở đời sau. Lê Va |
Thứ Hai, 2 tháng 2, 2009
Năm người dân cứu sống 35 người bị chìm thuyền trên sông Gianh
| |
| Năm người hùng. Ảnh: N.Q.V. |
Đã có gần 80 đoàn đại diện cho nhiều cơ quan, đoàn thể, cá nhân đã đến thăm viếng, chia buồn và giúp đỡ cho thân nhân những người xấu số tại xã Quảng Hải. Quỹ Tấm lòng vàng Lao Động uỷ nhiệm cho Liên đoàn LĐ tỉnh Quảng Bình có mặt ngay sau khi vụ việc xảy ra và trao 42 triệu đồng cho thân nhân của 42 người tử nạn.
Tang tóc bao trùm lên toàn bộ xã đảo Quảng Hải. Trong niềm đau thương ấy, bà con xã Quảng Hải và nhân dân trong vùng càng không ngớt ca ngợi hành động anh hùng của 5 người dân, quên mạng sống của mình, cứu được 35 con người thoát khỏi bàn tay thuỷ thần.
Mỗi giây một mạng sống
Chủ thuyền Mai Văn Luyện - quê xã Đồng Hoá, huyện Tuyên Hoá - kể: Sáng đó, tôi cùng con trai và hai cháu ruột đi đò về chợ Ba Đồn sắm tết. Đến đầu làng xã Quảng Hải, tôi ghé thuyền cho cháu Út - bạn của con trai tôi - lên thuyền cùng đi chợ cho vui. Mấy chú cháu tính, sắm sửa xong, ghé quán trong chợ, uống với nhau cốc rượu cuối năm.
Ai ngờ, khi thuyền đang đi đến đoạn bến sông chợ Điền thì thấy thuyền khách đang chìm, tiếng kêu cứu la hét vang nhói cả mặt sông. Tui kéo dây tăng ga thuyền máy của mình rồi hét: Thuyền chìm kìa, tụi bay chuẩn bị cứu người. Thuyền của tui quay mũi xông đến. Chú coi, trên mặt sông dày đặc những cái đầu nhấp nhổm, những cánh tay, tiếng hét, tiếng khóc, từng nhúm người níu nhau.
Tôi vừa quành thuyền, giảm ga, vừa gọi to: Thằng Phong, thằng Út, thằng Hoàng nhảy xuống. Tao và thằng Thắng trên thuyền. Nhanh lên. Chậm một giây chết thêm một người đó.
Đến chừ, thực sự tui cũng không nhớ được cái chi nữa. Con tui và hai đứa cháu cứ đẩy được ai áp vào mạn thuyền là tụi tui kéo lên. Tui kéo, thằng Thắng cấp cứu, vì người mô được kéo lên cũng sặc nước hết, xỉu hết. Mấy cha con, chú cháu tui mần như chớp mắt. Cho đến khi không thấy ai trên mặt sông nữa thì dừng.
Trên thuyền tui, đàn bà con nít đến 35 người, người đã tỉnh, người đang sặc nước. Tụi tui lao vào từng người, dốc, kéo, thúc cho nước trong người họ nhào ra hết rồi vội vàng cho thuyền vô bờ. Lúc ấy, các thuyền của bà con gần đó cũng kịp tới. Nhưng mà trời ơi, tới là để vớt xác thôi chứ còn ai sống nữa mô. Những người sống thì nằm trên thuyền tui đây rồi.
Anh Trần Quang Thắng kể: Nếu mà cứu một vài người còn dễ, đằng ni, trên mặt sông, dày đặc đầu người, rồi tay chân họ quýnh quáng vào nhau. Kéo được họ lên rồi, lại phải tức tốc xốc người cho ra nước không thì cũng chết. Sau khi đưa được 35 người lên bờ, sống cả, tụi tui lại cùng nhiều thuyền khác tìm vớt nạn nhân.
Tội lắm anh ạ, chết chìm mà, khi dùng lưới câu kéo lên, 5 xác, 3 xác dính chặt lấy nhau, phải phun nhiều rượu mới gỡ từng người ra được. Quần quật một ngày như rứa, đến chiều tối mới xong việc. Mấy chú cháu rét cứng miệng. Có chú chi trung tướng cho mấy chú cháu 3 triệu đồng. Sau xem tivi, bọn cháu mới biết đó là chú Tư lệnh Quân khu 4. Mấy chú cháu co chân chạy vô chợ, có chi mua nấy, có chi cũng ăn, đói như sắp chết.
Sau này, xã báo là mấy chú cháu cứu được 35 người. Có người nói 36 người. Nhưng tụi cháu chỉ biết gào lên với nhau, mau đi mau đi, cứu được càng nhiều người càng tốt chú nờ.
Mùng 4 Tết
| Trong khoang thuyền của người hùng Trần Quang Thắng. Ảnh: N.Q.V |
Chị Cao Thị Bưởi nghe giới thiệu, mấy eng ni đã cứu chị hôm chìm thuyền thì chị Bưởi chồm ra, ôm cứng lấy Phong, Út, Hoàng, Thắng và anh Luyện khóc: Ui trời ơi, tui không biết các eng ở mô mà đến tạ ơn hết. Không có các eng, thì đàn bà con nít mấy chục người chết hết chứ mô nữa. Rồi chị Bưởi cứ ghì tay vào từng người, nói và khóc suốt. Ngày mùng 4 Tết, làng Quảng Hải lại vang lên nhiều tiếng khóc như vậy vì những người được cứu sống gặp lại ân nhân mình.
Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Mạnh Hùng trao 3 triệu đồng cho một người và nói: Các anh là những anh hùng. Bà con vỗ tay rất to. Chủ tịch huyện Quảng Trạch cũng trao giấy khen và mỗi người được thưởng 1 triệu đồng. Anh Mai Thanh Luyện lúng túng kể: Hôm mùng 4 Tết ở Quảng Hải, 5 cha con, chú cháu tui đi mô bà con kéo theo nấy, nhìn ngắm, trầm trồ, gọi bọn tui là anh hùng. Thằng Phong con trai tui hỏi: Ba ơi, anh hùng là răng? Tui nói ba cũng nỏ biết.
Hôm đó, bà con chạy theo 5 người dân đã cứu sống họ, rồi ôm, rồi chèo kéo về nhà uống cốc rượu, rồi khóc, rồi nói râm ran khắp xã.
Cũng trong ngày mùng 4 Tết, cánh báo chí và cán bộ tranh luận nhiều về nguyên nhân đắm thuyền, về trách nhiệm của các cấp quản lý. Cán bộ quản lý các cấp thì khẳng định đã làm hết trách nhiệm: Nào là thuyền đã được kiểm định, bến bãi đã được cấp phép, phân cấp quản lý đến xã, xã thu tiền đò thì xã phải có trách nhiệm quản lý, giám sát, bảo vệ; còn cánh phóng viên thì cho rằng, các cấp chính quyền đúng là có phân cấp, có công văn chỉ thị, nhưng công tác thanh tra, kiểm tra buông lỏng, nương nhẹ...
Rồi sau khi vụ chìm thuyền xảy ra, Bộ GTVT lại cử các đoàn đi kiểm tra bến đò ngang, vẫn là thói quen "mất bò mới lo làm chuồng" thôi. Kiểm tra mà chưa đi, tất cả các bến đò ngang đã biết, lại cho thêm phao cứu sinh xuống thuyền, lại biểu diễn an toàn, chứ thực tế, không bến đò ngang nào chấp hành đúng quy định.
Tôi chỉ cho một cán bộ thanh tra giao thông Quảng Bình nhìn thấy đống phao cứu sinh trên con phà Phù Trịch và nói: Phao cứu sinh mà buộc dây chằng như thế, ngay lúc này tôi cho anh một tiếng đồng hồ xem anh có gỡ ra không. Nếu gặp sự cố trên sông thì ai lấy kịp phao cho người đi phà.
Một con phà vẻn vẹn cũng không quá vài ba chục cái phao. Nếu phà chìm, lại bó tay thôi. Biện pháp quản lý của nước ta nhiều lắm, văn bản chồng văn bản, chỉ thị cũng vô tận, nhưng điều cốt yếu số 1 là ý thức chấp hành của cán bộ quản lý và của chính người tham gia giao thông thì hầu như còn bỏ ngỏ. Còn bỏ ngỏ là còn tai nạn.
Phê phán nhau nhiều rồi, lúc này là phải thực hiện ngay một chế tài thưởng phạt đúng luật và nghiêm khắc. Với cái tội của ông chủ thuyền làm chết 42 người ở Quảng Bình này, cần một bản án nghiêm khắc để răn đe các chủ thuyền toàn quốc. Có người nói, ông chủ thuyền đã ra sức ngăn cản, nhưng bà con vẫn xuống. Đáng ra, chủ thuyền phải dừng ngay việc chạy thuyền nếu bà con cứ cố tình không chấp hành.
Và Chủ tịch xã Quảng Hải - người được chính quyền các cấp giao quyền quản lý - đáng ra phải từ chức ngay lập tức khi vụ tai nạn xảy ra. Chứ không phải như hiện nay, có vẻ như các bác lãnh đạo huyện, tỉnh không muốn nhắc đến hình thức cách chức ông chủ tịch xã này. Xoá bỏ ngay cái lề lối biểu diễn khi có kiểm tra, hình thức mãi như thế, mệt lắm.
Mơ ước của người hùng
Tôi chui vào khoang thuyền bé tí của vợ chồng người hùng Trần Quang Thắng. Thuyền anh đang đậu bến Cảnh Hoá - quê vợ. Anh nói, tụi em làm đơn mãi chưa được cấp đất nên cứ phải sống cả nhà trên thuyền, cực lắm anh ạ. Nhà em có 8 anh em thì 2 đứa em hồi nhỏ rớt sông chết cũng vì cả nhà sống trên thuyền thế này.
Vợ chồng em mới cưới nhau 2 năm, sinh được thằng cu con. Chúng em đi buôn cá. Ngày cao thì lãi được năm chục ngàn, còn thì khoảng vài chục ngàn. Nếu có mảnh đất, dựng ngôi nhà nhỏ cho vợ con lên bờ thì cuộc sống sẽ khá hơn.
Anh Thắng treo cái giấy khen về thành tích cứu người trên vách thuyền. Vợ anh Thắng tâm tư: Vợ chồng em mơ ước trả hết nợ anh ạ. Mượn tiền đóng con thuyền ni, có 18 triệu mà trả mãi 4 năm chưa hết, chừ còn hơn 7 triệu nữa, không biết mần răng. Được mấy triệu tiền thưởng, em cũng vội vàng mang đi trả nợ hết.
>> Kiểm tra các bến đò ngang trên toàn quốc
>> Lãnh đạo Bộ GTVT trao thưởng thành tích cứu người cho 5 người dân
>> Tìm thấy thi thể nạn nhân cuối cùng trong vụ chìm thuyền trên sông Gianh
>> Chủ tịch huyện Quảng Trạch nhận trách nhiệm trước nhân dân
>> Cư dân mạng sẻ chia với thân nhân người bị nạn ở Quảng Bình
>> Một gia đình ngư dân cứu được 35 người trong vụ chìm thuyền sáng 30 Tết
>> Chìm thuyền, 40 người thiệt mạng sáng 30 Tết
Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009
Quy định cấp thẻ bạn đọc Thư viện Quốc gia Việt Nam
I/ Đối tượng cấp thẻ:
Tất cả công dân Việt Nam và người nước ngoài đang lưu trú tại Việt Nam từ 18 tuổi trở lên có quyền làm Thẻ đọc tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
II/ Thủ tục cấp thẻ:
1. Người có nhu cầu đọc tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, có đủ độ tuổi như trên, khi đến làm thẻ cần có: Chứng minh thư nhân dân (CMTND) hoặc hộ chiếu.
2. Đối với sinh viên: từ năm thứ nhất trở lên của các trường Đại học, Cao đẳng khi đến làm thẻ cần có Thẻ sinh viên.
3. Đối với khách vãng lai (Không áp dụng đối với các HSSV của các trường Đại học, Cao đẳng tại Hà Nội) khi có nhu cầu đọc tại thư viện Quốc gia Việt Nam, yêu cầu có CMTND hoặc hộ chiếu để cấp Thẻ đọc tạm thời. Thẻ đọc tạm thời có giá trị tối đa 1 tháng kể từ ngày cấp
4. Khi thẻ đọc hết hạn (áp dụng cho tất cả các đối tượng), chỉ cần mang Thẻ đọc đã hết hạn đến để làm thủ tục cấp Thẻ mới.
III/ Thời gian làm thẻ bạn đọc:
Cấp thẻ theo giờ hành chính từ Thứ Hai đến Thứ Bảy hàng tuần.
- Sáng từ 8h00 đến 11h00
- Chiều từ 13h30 đến 16h00
Nghỉ không cấp thẻ Bạn đọc các ngày Chủ Nhật và 01 ngày Thứ Năm của tuần thứ 2 trong tháng.
IV/ Lệ phí Thẻ Bạn đọc: 30.000đ/1 thẻ/1năm (theo quy định của Bộ Tài chính)
Thẻ đọc tạm thời: 10.000đ/1 thẻ/1 tháng
Quy định này thay thế những quy định trước đây và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2007
Thứ Hai, 12 tháng 1, 2009
Đào, quất Hà Nội khoe sắc sớm
Quất Tứ Liên chín vàng óng, đào Nhật Tân nở rực vườn. Các nam thanh nữ tú say mê thưởng ngoạn, chụp ảnh. Nhiều khách đã sớm đến vườn chọn cây ưng ý.
| Tứ Liên được mùa quất chín vàng, những em nhỏ tung tăng dạo chơi bên vườn tạo nên một khung cảnh nên thơ. |
| Người trồng quất liên tục tưới cây, đảm bảo độ xanh tươi của lá, độ vàng của quả. |
| |
| Đông đảo khách sớm tìm đến vườn để chọn cây đẹp. |
| |
| Làng đào Nhật Tân nhiều vườn nở rộ, người thợ vườn liên tục chăm chút cho thành quả của mình. |
| Những bông hoa đào lung linh khoe sắc sớm. |
| Giới trẻ tìm đến thưởng ngoạn và thích thú chụp ảnh. |
| |
| Cây đào bích giá 10 triệu đồng tại vườn nhà anh Dũng (Nhật Tân) đã có người đặt thuê. |
| Nhiều cây đào đã được đánh khỏi vườn, bán. |
| Cũng tại làng Nhật Tân, nhiều vườn hoa cúc cũng đã vàng óng, bông nở rộ, bông chúm chím. |
| |
| Sau khi đã bán những cành đào, người thợ vườn chỉnh sửa thân và gốc cây đào, kịp thời chuẩn bị cho năm sau. |
Hoàng Hà
www.vnexpress.net
Mai vàng Sài Gòn khoe sắc
Vườn mai Út Nơi, quận Gò Vấp vàng rực hoa dù nghệ nhân này chưa tỉa lá.
Vườn mai Tư Bay, quận 12, cũng đón Tết sớm.
Vườn mai Ba Sơn (quận Thủ Đức) nổi tiếng với vài nghìn gốc có dáng đẹp cũng bắt đầu đơm hoa.
Mai cúc, một trong những giống mai lạ tại vườn Út Tấn (Thủ Đức) cũng nở hoa sớm hơn dự kiến.
Giống mai hồng cực hiếm tại vườn Ba Sơn bắt đầu khoe sắc.
Cội mai "Vòi bạch tuộc" đâm hoa bất thường gần gốc cây.
Bạch mai lỗi hẹn với ngày xuân.
Những cội mai chưa kịp hé nụ đang được trỉa lá để kịp đơm hoa trong ngày Tết.
Thiên Chương
www.vnexpress.net