Hiển thị các bài đăng có nhãn Ô tô - xe máy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ô tô - xe máy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2008

Kinh nghiệm lái xe qua đường ngập nước

Chủ nhân những chiếc ôtô tại Hà Nội đã đúc rút được bài học vượt nước quý báu sau trận "mưa tháng 11". Đó là tắt điều hòa, đi ở số thấp, ga đều và không đề nổ nếu xe bị chết máy.

Cơn mưa kỷ lục kéo dài từ 31/10 đến 3/11 kéo theo hàng trăm ôtô bị hỏng khi chết máy do ngập nước. Sau quãng thời gian vật lộn với việc gọi cứu hộ, chờ bảo hiểm và đối mặt với khoản tiền sửa không nhỏ, chủ nhân những chiếc xe mới ngẫm lại và rút ra những kinh nghiệm cho mình.

Ngoài nguyên nhân khách quan, nhiều tai nạn xảy ra lại do chính sự "liều lĩnh" của tài xế. Những người đứng trú mưa sáng 31/10 trên đường Thái Hà vẫn nhớ chiếc thể thao đa dụng hạng sang Audi Q7 "hùng dũng" lao qua vũng nước và "chết đứng" ngay sau đó.

Xem xét kỹ điều kiện nước ngập, quan sát các xe xung quanh để ước lượng mực nước trước khi quyết định lội nước. Ảnh: Hoàng Hà.
Xem xét kỹ, quan sát xe xung quanh để ước lượng mực nước trước khi quyết định đi qua. Ảnh: Hoàng Hà.

Trên diễn đàn chuyên về ôtô Otofun, chủ đề chia sẻ kinh nghiệm lái xe qua vũng ngập nhận được sự chú ý khi kéo dài tới gần 20 trang. Không ít thành viên tỏ ra hối tiếc vì có được thông tin quá muộn.

Trước lượng xe BMW bị chết máy phải đưa về xưởng lên tới 80 chiếc, nhà phân phối Euro Auto ra khuyến cáo cho người sử dụng. Còn đội cứu hộ 116 cũng từng có những hướng dẫn rất cụ thể.

Trong tất cả các tình huống đường phố bị ngập nước, biện pháp tốt nhất là...không hoặc hạn chế đi qua.

Trường hợp không có sự lựa chọn, buộc phải mạo hiểm đi qua vùng ngập thì nên tháo lọc gió động cơ ra để lấy gió trực tiếp từ khoang động cơ vào (vị trí cao nhất) mà không thông qua đường khí nạp theo xe (vị trí thấp hơn). Qua khỏi đoạn ngập lụt, lắp lại lọc gió động cơ như ban đầu. Tuy nhiên, mức nước an toàn cảnh báo là dưới 25 cm, không vượt qua tâm bánh xe.

Đặc biệt chú ý khi có xe chạy cùng chiều và ngược chiều sẽ xảy ra hiện tượng tạo sóng, có khả năng nước dâng cao và tràn vào đường nạp gió, vào lọc gió động cơ.

Cổ hút gió trên xe Ford Laser, nơi rất dễ bị nước vào. Ảnh: Giaothongmienbac.
Cổ hút gió trên xe Ford Laser, nơi rất dễ bị nước vào. Ảnh: Giaothongmienbac.

Nên tắt công tắc AC (điều hòa), đi số 1, chạy đều ga ở mức độ vừa phải, giữ cho nổ tròn máy, lái điềm tĩnh. Với xe số tự động, chuyển sang chế độ bán tự động và để ở số 1. Nếu để nguyên, xe sẽ tự sang số 2 khiến ga bị yếu, dẫn tới nước tràn vào động cơ thông qua ống pô. Không nên đạp côn xe số sàn khi qua chỗ ngập.

Rất nhiều tài xế cho rằng phải thốc ga thật mạnh để xe vượt qua. Trên thực tế giải pháp này rất nguy hiểm bởi tăng ga mạnh sẽ khiến nước tràn qua lưới tản nhiệt, đổ vào ống hút. Ngoài ra, khi tăng ga đột ngột vòng tua máy lên cao, nếu nước vào sẽ khiến hiện tượng thủy kích mạnh hơn, dẫn tới cong tay biên.

Qua chỗ ngập, bạn cần đi tiếp một đoạn, rà phanh để loại bớt nước trên đĩa. Sau đó xuống kiểm tra lại động cơ, gầm xe.

Nếu xe bị tắt máy đột ngột giữa vùng ngập, tuyệt đối không được khởi động lại và phải liên lạc ngay đến điện thoại đường dây nóng của cứu hộ, đại lý hoặc nhân viên bán hàng để được tư vấn hướng dẫn, tìm biện pháp tối ưu để xử lý.

Nguyên nhân là do khi máy vận hành bình thường, các piston lao lên ép hỗn hợp khí nạp với tốc độ khoảng 1.000 vòng/phút. Do hỗn hợp khí nạp đã bị nước chiếm chỗ và vì nước không chịu nén nên chính lực ép này đã tạo phản lực làm biến dạng cong các tay biên và piston, khi tay biên cong quá sẽ bị gẫy. Đoạn gẫy này sẽ chọc thủng thành động cơ phá hủy máy

Khi gọi cứu hộ, tài xế cũng lưu ý nếu xe trang bị số tự động, hệ thống tự động chống trượt, tự động cài cầu, tự động ổn định chống lật hoặc dẫn động 4 bánh toàn thời gian thì chỉ nên kéo xe bằng xe bàn (4 bánh không quay).

Ngoài ra, do mất bình tĩnh nên nhiều tài xế mở cửa ngay mà không chú ý tới mức nước. Nếu nước cao hơn phần thấp nhất của cửa ra vào, tuyệt đối không mở cửa, vì sẽ làm nước bên ngoài tràn vào làm hư các hệ thống điện tử, khi đó cần mở cửa sổ để ra vào xe.

Nguyễn Nghĩa

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2008

Cách đọc ký hiệu trên lốp ô tô



Hầu hết chủ xe đều mang xe ra xưởng cho thợ thay lốp và việc chọn lốp cũng thường được giao phó luôn cho thợ. Dù vậy, có một chút kiến thức cơ bản về thuật ngữ sử dụng cho lốp ô tô sẽ giúp bạn tránh được tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, sử dụng lốp không phù hợp với xe, hoặc với điều kiện sử dụng.

Trên thành lốp thường có rất nhiều chữ và số thể hiện kích thước và chủng loại lốp. Ví dụ, trên lốp có dòng chữ, số P215/65R17 thì chữ P là viết tắt của “Passenger Vehicle”, tức là xe du lịch 7 chỗ trở xuống. Nếu chữ P thay bằng LT, tức là lốp dành cho xe việt dã hạng nhẹ (Light Truck), thường dùng cho xe tải trọng lớn. Về các con số, 215 là bề rộng của lốp tính theo đơn vị millimét, còn các số thứ hai, 65, thể hiện tỷ số giữa độ cao thành lốp với độ rộng lốp. Trong trường hợp này, thành lốp bằng 65% bề rộng 215mm của lốp.

Chữ R là viết tắt của Radial, thể hiện kết cấu lốp có bố toả tròn, để phân biệt với loại mành chéo (Bias). Lốp Radial thường dùng cho xe du lịch vì phù hợp với mọi loại đường, còn lốp Bias thường dùng cho xe việt dã. Về cảm giác lái và hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu, loại lốp Bias “thua” lốp Radial.

Các con số cuối cùng, 17, chỉ đường kính bánh xe mà lốp lắp vào. Có một điểm không thống nhất ở đây là đơn vị đo. Trong khi các kích thước của lốp trên toàn thế giới được tính bằng đơn vị hệ mét thì đường kính vành xe lại được đo bằng inch.

Khi đi mua lốp, bạn cần biết cỡ lốp của xe. Lưu ý quan trọng nhất là nên chọn cỡ lốp sát với bề rộng lốp nguyên bản của xe. Nếu lốp xe có đường kính 215mm mà bạn thay bằng lốp lớn hơn quá nhiều có thể gây ảnh hưởng đến các bộ phận của hệ thống treo. Việc sử dụng loại lốp nhỏ hơn sẽ không đủ chịu tải và làm giảm độ bám đường của xe, khiến hệ thống chống bó cứng phanh (ABS) hoạt động kém hiệu quả. Thông thường, trong trường hợp này, bạn có thể chọn loại lốp lớn hơn (225) hoặc nhỏ hơn một chút (205), nhưng tốt nhất là dùng đúng kích thước 215mm.

Tỷ lệ giữa độ cao thành lốp với độ rộng của lốp cũng rất quan trọng. Lốp có tỷ lệ này là 50 thì thành lốp thấp hơn loại 65, cho độ chính xác của hệ thống lái cao hơn, nhưng lại giảm độ êm của xe khi vào đường nhiều ổ gà. Trường hợp duy nhất nên thay đổi tỷ lệ này của lốp là vào mùa đông ở xứ lạnh, đồng thời cũng nên thay luôn đường kính vành bánh xe. Sử dụng lốp mùa đông có tỷ lệ thành lốp cao hơn sẽ giúp xe chạy êm hơn vào mùa đông.

Tuy nhiên, thành lốp cao cũng đồng nghĩa với lốp cao hơn, nên có thể không lắp vừa vào chắn bùn. Trong trường hợp này, bạn có thể thay loại vành xe nhỏ hơn một cỡ, ví dụ từ 17-inch xuống 16-inch, để kích thước cả bánh xe về cơ bản vẫn như trước, nhưng xe chạy êm hơn.

Ngoài các thông tin cơ bản trên, thành lốp còn có nhiều ký hiệu khác, như tải trọng tối đa, áp suất lốp tối đa và tốc độ an toàn tối đa. Thông tin về tải trọng và áp suất khá dễ hiểu, còn tốc độ được quy ước bằng mã. Cụ thể, chữ T cho biết tốc độ tối đa cho phép của lốp là 190 km/h; chữ H tương ứng với 210 km/h; chữ V là 240 km/h; và chữ W là 270 km/h. Lốp chữ Z chưa được tiêu chuẩn hoá quốc tế mà tuỳ thuộc vào từng nhà sản xuất, nhưng ít nhất chịu được tốc độ tối đa như lốp V. Thông thường, chỉ cần lốp T là đủ để chạy trên đường cao tốc.

Ngoài các ký hiệu bằng chữ và số, trên một số lốp còn có biểu tượng núi (Mountain), cho biết đó là lốp có thể dùng cho mùa đông. Ở xứ lạnh, có hai loại lốp mùa đông: M&S dùng cho xe thường chạy trên đường nhiều bùn và tuyết (Mud & Snow), còn có biểu tượng bông tuyết bên trong núi thì đó là lốp dùng cho thời tiết có tuyết và băng.

Một số biểu tượng khác trên lốp là TL (viết tắt của tubless - lốp không xăm), SSR (Runflat tire - lốp runflat, cho phép xe chạy ở tốc độ cao thêm một quãng đường dài ngay cả khi lốp đã bị thủng, nhờ kết cấu thành lốp đặc biệt vững chắc),…

Vũ Kiên

Theo Canadian Driver